Sở Giáo dục và Đào Tạo Bến Tre

Gương sáng

86 học sinh nhận giải thưởng Trương Vĩnh Ký lần thứ XVII

Email In PDF.

BDK.VN - Sáng 22-1-2022, UBND tỉnh tổ chức lễ trao giải thưởng Trương Vĩnh Ký lần thứ XVII, năm học 2020-2021. Đến dự có Phó chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Thị Bé Mười.

Phó chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Thị Bé Mười trao giấy chứng nhận giải thưởng Trương Vĩnh Ký cho học sinh.

Năm học 2020-2021, tỉnh có 86 học sinh đạt thành tích tại kỳ thi học sinh giỏi quốc gia, cuộc thi khoa học - kỹ thuật cấp quốc gia học sinh trung học, thủ khoa tỉnh kỳ tốt nghiệp THPT năm 2021, kỳ thi Olympic nhận giải thưởng Trương Vĩnh Ký. Các giải thưởng gồm: 2 giải nhất, 4 giải nhì, 27 giải ba, 53 giải tư. Tổng số tiền trao giải là 639 triệu đồng.

 

Phó chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Thị Bé Mười trao Bằng khen của UBND tỉnh cho học sinh đạt Thủ khoa kỳ thi tốt nghiệp THPT năm học 2020-2021.

 

Phó chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Thị Bé Mười trao bằng khen của UBND tỉnh cho học sinh đạt thủ khoa kỳ thi tốt nghiệp THPT năm học 2020-2021.

Trong số học sinh nhận giải thưởng, có 44 em thuộc Trường THPT Chuyên Bến Tre, số còn lại ở các trường THPT ở các huyện, thành trong tỉnh. Số lượng học sinh đạt giải năm học này tăng 7 giải so năm học trước.

 

Giám đốc Sở GD&ĐT La Thị Thúy trao giấy chứng nhận giải thưởng Trương Vĩnh Ký cho học sinh.

 

Giám đốc Sở GD&ĐT La Thị Thúy trao giấy chứng nhận giải thưởng Trương Vĩnh Ký cho học sinh.

Giải thưởng Trương Vĩnh Ký đã trải qua 17 năm tổ chức, tổng số giải thưởng lên đến 927 giải gồm: 9 giải nhất, 65 giải nhì, 357 giải ba, 496 giải tư. Tổng tiền thưởng gần 4 tỷ đồng do Công ty TNHH MTV Xổ số kiến thiết Bến Tre (doanh nghiệp được giao nhiệm vụ tài trợ chính cho giải thưởng) và các đơn vị tài trợ khác.

Phó chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Thị Bé Mười ghi nhận và bày tỏ sự biết ơn đối với những đóng góp của xã hội, gia đình, đặc biệt là Hội Khuyến học tỉnh, thầy cô giáo đã ươm mầm cho những ước mơ, những tài năng trẻ. Đồng thời bày tỏ niềm tin tưởng, ghi nhận tinh thần hiếu học của các em học sinh. Với những giải thưởng vinh dự này sẽ là nguồn động viên to lớn, tiếp thêm cho các em nghị lực để luôn phấn đấu vươn lên, luôn là những đứa con ngoan, trò giỏi. Khi rời ghế nhà trường, giảng đường các em sẽ là thế hệ tiếp nối những bậc hiền tài của quê hương, tiếp tục cống hiến làm cho Bến Tre thêm giàu đẹp.

Tin, ảnh: Phan Hân

(Thông tin phản ánh, bài viết, hình ảnh, video đóng góp vui lòng gửi về Ban biên tập qua email:  Địa chỉ email này đã được bảo vệ từ spam bots, bạn cần kích hoạt Javascript để xem nó. )

 

“Vận dụng giáo dục STEM để chế tạo mô hình tái hiện phong trào Đồng Khởi Bến Tre”

Email In PDF.

Đó là đề tài nghiên cứu của nhóm tác giả: Lê Đăng Quang, Nguyễn Phan Tuấn Duy, Trường THPT Chê Ghê-va-ra; Trương Huỳnh Đạt, Nguyễn Thị Kim Ngân, Trường THPT Quản Trọng Hoàng; Lê Đăng Kim Ngân Trường THCS Thị trấn Mỏ Cày, huyện Mỏ Cày Nam, tham gia Cuộc thi Sáng tạo Thanh, thiếu niên, Nhi đồng tỉnh Bến Tre năm 2021.

Theo các tác giả, hiện nay ngành Giáo dục Đào tạo nước ta đã có nhiều chủ trương đổi mới giáo dục theo hướng phát triển năng lực và phẩm chất học sinh. Để thực hiện chủ trương trên, việc sử dụng đồ dùng dạy học là rất cần thiết trong quá trình giảng dạy của giáo viên. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khách quan việc sáng tạo và sử dụng đồ dùng dạy học phục vụ trong tiết dạy chưa được giáo viên thực hiện kịp thời, chính vì vậy học sinh tiếp thu kiến thức thường diển ra một chiều, thiếu sinh động nhất là các môn Lịch sử, Giáo dục công dân, Ngữ văn…

Xuất phát từ thực tế trên, việc cho ra đời sản phẩm: “Vận dụng giáo dục STEM để chế tạo mô hình tái hiện phong trào Đồng Khởi Bến Tre” nhằm góp phần thực hiện thành công đổi mới phương pháp giáo dục, trong ngành giáo dục hiện nay, cũng thông  qua mô hình này giới thiệu rộng rãi trong nước và trên thế giới lịch sử hào hào của người dân Bến Tre trong công cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước.

Việc nghiên cứu chế tạo ra mô hình của các tác giả, từ việc vận dụng các kiến thức đã học trong nhà trường, cũng như kết hợp với các kiến thức thực tế từ việc thực hành trải nghiệm và nghiên cứu trên các lĩnh vực khác như: Dựa trên một số nghiên cứu việc ứng dụng công nghệ tự động trong dạy học và thực tế cuộc sống (mô hình động cơ đốt trong, hệ thống khởi động cơ đốt trong, gia công tự động trong trong cắt gọt kim loại - Môn công nghệ lớp 11; đi tham quan nhà bảo tàng truyền thống Đồng Khởi, được các hướng dẩn viên trực tiếp giới thiệu về những chiế tích lịch sử vẻ vang của người dân Bến tre trong Đồng Khởi năm 1960, đây là những tư liệu quan trọng để các tác giả thiết kế ra sản phẩm “Vận dụng giáo dục STEM để chế tạo mô hình tái hiện phong trào Đồng Khởi Bến Tre” .

Mô hình sản phẩm được thiết kế gồm các bộ phận như: Mô hình sản phẩm; Vị trí lắp đặt thiết bị điện tử (động cơ, bo mạch ); vị trí gắn đèn; Lập trình cho mạch điều khiển (Arduino) và các linh kiện khác; thiết kế hộp và nguyên vật liệu chế tạo vỏ hộp.

Hoạt động của Mô hình: mô hình được vận hành thông qua mạch điều khiển đã được lập trình sẵn. Mạch điều khiển sẽ điều khiển động cơ xoay đến hình ảnh chỉ định và điều khiển mạch âm thanh phát ra đoạn thuyết minh nội dung ghi âm đúng với hình ảnh minh họa bố trí trên hộp được gắn trên trục của động cơ. Nguồn điện cung cấp cho hệ thống là nguồn điện một chiều, đảm bảo được độ an toàn cho người sử dụng.

Mô hình nầy sử dụng được cho tất cả các sự kiện lịch sử trong môn học Lịch sử. Chẳn hạn, giáo viên dạy bài: “Phong trào Đồng Khởi ở Bến Tre” muốn sử dụng thiết bị, giáo viên ghi âm bài giảng vào thẻ nhớ, hình ảnh minh họa bố trí trên mặt hộp. Việc sử dụng tại các khu du lịch, thiết bị được ghi âm sẵn về những nội dung cần giới thiệu cho du khách, hình ảnh bố trí trên hộp. Khi du khách vào tham quan, thiết bị được bật lên để giới thiệu hay hướng dẫn cho du khách về những nội dung cần giới thiệu.

Việc cho ra đời mô hình góp phần làm phong phú các dụng cụ đồ dùng dạy học; giúp giáo viên và học sinh nâng cao hiệu quả, chất lượng trong các tiết dạy lịch sử địa phương (cụ thể Chương trình lịch sử địa phương về phong trào Đồng Khởi học tại lớp 4 (bài 20), lớp 5(bài 20) và lớp 9 (bài 28), lớp 12 (bài 21) mang lại cho du khách thích thú hơn, hiểu rõ hơn về phong trào Đồng Khởi Bến Tre khi đến tham quan tại các khu di tích, bảo tàng lịch sử của tỉnh; ứng dụng khoa học công nghệ vào thực tế cuộc sống.

Sản phẩm ra đời, đã mang lại lợi ích to lớn cung cấp ý tưởng cho việc tạo ra đồ dùng phục vụ dạy học trong môn Lịch sử (có thể sử dụng cho rất nhiều bộ môn khi thay đổi nội dung phát âm và hình ảnh). Dự án đã được rất nhiều giáo viên và học sinh trong trường, địa phương, trong và ngoài huyện biết tới. Sắp tới   sẽ trưng bày và giới thiệu rộng rãi tại các khu di tích, bảo tàng lịch sử, khu du lịch,…khi được đầu tư kinh phí chế tạo.

Để thực hiện được đề tài, nhóm đã tập hợp các bạn có cùng sở thích đam mê nghiên cứu khoa học kĩ thuật. Mỗi thành viên trong nhóm sẽ đảm nhận từng công việc thuộc thế mạnh của mình, cả nhóm sẽ được nghiên cứu, trải nghiệm, chế tạo dưới sự hướng dẫn của giáo viên hướng dẫn. Các em thành lập nhóm Zalo để thuận tiện cho việc trao đổi, nghiên cứu, học tập. Sau một thời gian trên cơ bản chế tạo ra được sản phẩm với những tính năng mới như:

Sản phẩm tạo ra từ sự kết hợp giữa học lý thuyết và thực hành trải nghiệm. Hiện tại chưa có mô hình hay sản phẩm nào Thầy Cô sử dụng trong quá trình giảng dạy.

Sản phẩm thể hiện rõ nét về Stem (Khoa học, Công nghệ, Kĩ thuật, Toán học).

Cách thực hiện: Để thực hiện được đề tài nhóm chúng em đã lên kế hoạch cụ thể; đầu tiên là xác định rõ vấn đề cần nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, tư duy thiết kế, mục đích tạo ra sản phẩm, công dụng của sản phẩm,…

S: (Science)-Khoa học: Trong quá trình thực hiện đề tài tham gia cuộc thi nhóm học sinh đã vận dụng các kiến thức lĩnh vực khoa học như:

Môn Lịch sử: Nghiên cứu một số mô hình, tranh ảnh động được sử dụng tại Nhà truyền thống, Bảo tàng, di tích, đền thờ, nghiên cứu điểm nổi bật của phong trào Đồng khởi của tỉnh Bến Tre. Trải nghiệm thực tế tại địa phương (Nhà truyền thống Định Thủy). Trong chương trình học phổ thông: Chương trình lịch sử địa phương chỉ được học tại lớp 4 (bài 20), lớp 5(bài 20) và lớp 9 (bài 28), lớp 12 (bài 21).

Môn tin học: Nghiên cứu cách lập trình bằng ngôn ngữ C++, lập trình Arduino và các linh kiện điện tử khác như mạch DFPlayer, lập trình điều khiển động cơ step,...

T: (Technology)-Công nghệ: Giáo dục Stem ngay trong dạy học môn công nghệ dựa vào các hoạt động thiết kế kĩ thuật, hoạt động nghiên cứu khoa học kĩ thuật, thực hành, trải nghiệm và định hướng sản phẩm. Đây cũng là cơ sở để triển khai dạy học nhiều nội dung công nghệ tiếp cận Stem. Trong quá trình thực hiện đề tài tham gia cuộc thi nhóm học sinh đã vận dụng các kiến thức lĩnh vực công nghệ như:

Học sinh nghiên cứu các thiết bị hiện có trên thị trường, và dựa vào kiến thức bản thân các em đã thiết kế chế tạo thiết bị. Nghiên cứu về mạch điện tử, các linh kiện điện tử, các cảm biến, động cơ (môn Công nghệ 11, Công nghệ 12), để từ đó các em thiết kế cho ra sản phẩm.

E: (Engineering)-Kĩ thuật: Trong chu trình Stem không chỉ là “kiến thức” thuộc lĩnh vực “kĩ thuật” mà bao hàm “quy trình kĩ thuật” để sáng tạo ra “công nghệ” mới. Trong quá trình thực hiện đề tài tham gia cuộc thi các em đã vận dụng các kiến thức lĩnh vực kĩ thuật như: Sử dụng kiến thức vẽ kĩ thuật để thiết kế vỏ thiết bị; Sử dụng máy in cắt laze để gia công vỏ hộp thiết bị…; Sử dụng máy khoan, máy cắt để gia công.

M: (Mathematics)- Toán học: Môn Toán học với tính đặc thù là công cụ nền tảng trong nghiên cứu tất cả các môn khoa học tự nhiên nên gần như mặc định là nó luôn xuất hiện trong mọi chủ đề giáo dục Stem. Trong quá trình thực hiện đề tài tham gia cuộc thi các em đã vận dụng các kiến thức lĩnh vực toán học như: Sử dụng kiến thức toán học để tính toán trong thiết kế vỏ hộp; tính toán dự trù vật liệu (gỗ, giấy in, gugong, đai ốc, đèn,..) và lập trình; Các kiến thức toán học được sử dụng khi lập trình, tính toán thời gian chờ, tính toán góc quay cho động cơ; Tính toán chia góc (8 góc) khi gia công vỏ hộp; Tính chia chiều cao và chiều rộng của bề mặt bố trí hình ảnh; Tính toán công suất tối thiểu cho động cơ xoay;Tính toán giá thành sản phẩm,…

Đây là một mô hình mới lạ, có sự kết hợp kiến thức từ nhiều môn học để chế tạo, các chi tiết phần lớn được các em sử dụng từ vật liệu đã qua sử dụng. Sản phẩm đáp ứng rất tốt cho nhu cầu dạy và học trong nhà trường, phục vụ cho nhiều môn học.

Ví dụ: Khi học phần lịch sử địa phương (Phong trào Đồng Khởi Bến Tre) các em bước đầu được Thầy Cô cung cấp trong quá trình học tập tại lớp (kiến thức có từ sách giáo khoa và lúc Thầy Cô giảng dạy). Chính vì thế để khắc sâu kiến thức hay hình dung về phong trào Đồng khởi, các chiến dịch trong thời điểm đó rất khó khăn. Nhưng khi sử dụng sản phẩm này vào dạy học giúp cho học sin cảm thấy rất hứng thú trong việc học tập, nghiên cứu bài học cũng như việc tiếp thu bài học dễ dàng hơn, khắc sâu hơn.

Sản phẩm ra đời chỉ lả kết quả bước đầu, chắc chắn sẻ còn nhiều khiếm khuyết, cần phải được tiếp tục hoàn thiện trong thời gian tới, nhằm làm cho Cuộc thi Sáng tạo Thanh, thiếu niên, Nhi đồng tỉnh Bến Tre ngày càng nâng cao về số lượng và chất lượng, có nhiều sản phẩm mang tính mới, tính sáng tạo và tính hiệu quả cao hơn.

Kết quả Ban tổ chức Cuộc thi Cuộc thi Sáng tạo Thanh thiếu niên Nhi đồng  toàn quốc đã trao Giải Ba cho nhóm tác giả nêu trên.

Huy Phục

(Phản ảnh các vấn đề có liên quan đến nội dung bài viết qua email Địa chỉ email này đã được bảo vệ từ spam bots, bạn cần kích hoạt Javascript để xem nó. )

 

2 giáo viên của tỉnh tham dự lễ tuyên dương nhà giáo tiêu biểu toàn quốc

Email In PDF.

Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) La Thị Thúy thông tin: Tối ngày 14-11-2021, tại Đài Truyền hình Việt Nam, 2 giáo viên tiêu biểu của Bến Tre cùng với 189 nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục tiêu biểu thuộc 63 tỉnh, thành trong cả nước tham dự chương trình truyền hình trực tiếp “Thay lời tri ân” năm 2021.

Cô Lê Thị Xuân Diễm (thứ 5 hàng đầu tiên từ trái qua) chụp ảnh lưu niệm trong buổi gặp gỡ Thủ tướng Chính phủ. Ảnh: CTV.

Đây là một trong các hoạt động nhằm hướng tới kỷ niệm 39 năm Ngày Nhà giáo Việt Nam (20-11-1982 - 20-11-2021) do Bộ GD&ĐT, Công đoàn Giáo dục Việt Nam phối hợp với Đài Truyền hình Việ̣t Nam tổ chức.

2 nhà giáo của tỉnh gồm: Cô Lê Thị Xuân Diễm - giáo viên Trường Trung học phổ thông Lê Quí Đôn (Bình Đại) và cô Trần Thị Phương - giáo viên Trường trung học cơ sở Thạnh Phú Đông (Giồng Trôm). Đây là 2 nhà giáo đã được tặng danh hiệu Nhà giáo ưu tú và có nhiều thành tích trong công tác bồi dưỡng học sinh giỏi; nhận nhiều danh hiệu thi đua được các cấp tuyên dương khen thưởng nhiều năm liền.

Được biết, trong khuôn khổ chương trình tri ân, sáng cùng ngày, tại trụ sở Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính có buổi gặp gỡ với 50/191 nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục. Trong đó, có cô Lê Thị Xuân Diễm - giáo viên Trường Trung học phổ thông Lê Quí Đôn. Năm nay, Bến Tre tiếp tục được chọn làm đại diện phát biểu tại buổi gặp gỡ Thủ tướng Chính Phủ.

Phan Hân

 

Công nhận di tích lịch sử văn hoá cấp tỉnh Đền thờ Ân sư tiền vãng

Email In PDF.

Ngày 6/11, UBND Thành phố Bến Tre tổ chức lễ đón nhận bằng công nhận di tích lịch sử văn hoá cấp tỉnh Đền thờ Ân sư tiền vãng. Bà Hồ Thị Hoàng Yến – Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy – Chủ tịch HĐND tỉnh, bà Nguyễn Thị Bé Mười – Phó Chủ tịch UBND tỉnh Bến Tre đến dự.

Đền thờ Ân sư tiền vãng còn gọi là Miếu Tiên sư, nơi lưu danh những nhà giáo ưu tú, là công trình biểu trưng cho tinh thần tôn sư trọng đạo, toạ lạc tại phường An Hội, thành phố Bến Tre.

Đền thờ Ân sư tiền vãng. Ảnh: Nguyễn Sự
Năm 1957, ông Nguyễn Văn Trinh – Hiệu trưởng đầu tiên của Trường Trung học công lập Kiến Hoà – ngôi trường đầu tiên của tỉnh đã vận động quyên góp tiền xây dựng đền thờ Ân sư tiền vãng để tri ân quý thầy cô giáo đã có công trong sự nghiệp giáo dục tỉnh nhà lúc bấy giờ.

Công trình xây dựng năm 1969, kiến trúc theo kiểu dáng đền thờ xưa với dáng vẻ tôn nghiêm. Đến năm 1999, đền được UBND tỉnh cho nâng cấp, lát gạch nền và hàng năm đều được tu sửa, sơn phết lại vào các dịp lễ, Tết. Hiện gian thờ chính của đền rộng 75m2, bố trí trung tâm là một bài vị gỗ lớn ghi danh sách 350 vị ân sư đã có tâm huyết với ngành giáo dục tỉnh nhà. Bên trái gian thờ là danh sách cán bộ, giáo viên ngành giáo dục đã từ trần và di ảnh thầy Nguyễn Văn Trinh, là người lập Đền Ân sư tiền vãng. Bên phải gian thờ bảng danh sách liệt sĩ ngành giáo dục và đào tạo trong thời kỳ kháng chiến chống đế quốc Mỹ.Đền thờ Ân sư tiền vãng, một công trình mang tính giáo dục, có ý nghĩa, là nơi dạy bài học làm người cũng là cách khơi dậy truyền thống hiếu học, tinh thần tôn sư trọng đạo và là niềm tự hào của người dân Bến Tre nói chung, nhân dân Thành phố Bến Tre nói riêng.

Đền thờ Ân sư tiền vãng được công nhận là di tích lịch sử – văn hóa cấp tỉnh thể hiện sự quan tâm đặc biệt và đánh giá cao của Đảng bộ, chính quyền tỉnh đối với những giá trị về lịch sử, nghệ thuật kiến trúc và ý nghĩa mà di tích mang lại.

Dịp nầy, bà Hồ Thị Hoàng Yến, Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy, cùng quý đại biểu dự lễ đã thắp hương tri ân các bậc ân sư tiền vãng, bày tỏ sự biết ơn đến các thầy cô giáo đã qua đời trong thời kháng chiến, đã có đóng góp cho sự nghiệp giáo dục của địa phương. Sự kiện này cũng ghi nhận nỗ lực, cố gắng, những đóng góp tích cực của Đảng bộ, chính quyền và nhân dân Bến Tre nói chung và thành phố Bến Tre nói riêng, đặc biệt là ngành giáo dục và đào tạo trong việc gìn giữ, chăm sóc đền thờ và phát huy các giá trị lịch sử, truyền thống.

Anh Đào

 

Khóa Sư phạm sơ trung cấp đầu tiên và duy nhất của tỉnh

Email In PDF.

BDK - Trong mỗi giai đoạn phát triển, giáo dục và đào tạo (GD&ĐT) có nhiệm vụ gắn với một sứ mệnh lịch sử nhưng không ngoài mục tiêu đào tạo thế hệ trẻ có đủ năng lực phục vụ tốt cho xã hội, đảm đương trách nhiệm xây dựng quê hương đất nước. Sự ra đời và trưởng thành của lớp giáo sinh Khóa Sư phạm sơ trung cấp (1965 - 1966) là mảnh ghép lịch sử không thể thiếu của ngành giáo dục cách mạng tỉnh.

Những người tham gia Khóa Sư phạm sơ trung cấp chụp ảnh lưu niệm trong một lần họp mặt. Ảnh: CTV

Khóa học đặc biệt

Trong ký ức của ông Ngô Hải Phong - nguyên Phó trưởng ty Giáo dục tỉnh, giáo viên Khóa Sư phạm sơ trung cấp (1965 - 1966), đầu năm 1965, Bến Tre cũng như cả nước chiến tranh vô cùng ác liệt. Hồi ấy, GD&ĐT coi là nhiệm vụ chính trị bức thiết. Để phát triển ngành giáo dục lớn mạnh hơn, Tiểu ban Giáo dục tỉnh (tổ chức, chức năng, nhiệm vụ như Sở GD&ĐT ngày nay - PV) có chủ trương thành lập Trường Sư phạm sơ trung cấp chính quy của tỉnh, nhằm đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng cho việc mở rộng trường lớp cách mạng ở khắp các vùng giải phóng.

Cuối tháng 6-1965, Tiểu ban Giáo dục tỉnh chiêu sinh và đã khai giảng Khóa Sư phạm sơ trung cấp tại ấp An Trạch Tây, xã Thành Thới, huyện Mỏ Cày (nay là Mỏ Cày Nam). Khóa học có 41 giáo sinh được tập hợp từ nhiều nguồn như: học sinh phổ thông trong vùng giải phóng, một số giáo viên đang dạy tiểu học của huyện Mỏ Cày, Giồng Trôm và con em của gia đình cách mạng bỏ học trong vùng dịch kiềm kẹp.

Lớp học được tổ chức rất chặt chẽ. Có một Chi bộ Đảng Lao động Việt Nam, một Chi đoàn Thanh niên Lao động Việt Nam. Có lớp trưởng, lớp phó, 3 tổ giáo sinh do 3 giáo viên phụ trách. Lớp có cán sự bộ môn, ban văn - thể - mỹ, lao động. Đặc biệt thành lập tổ vũ trang, trang bị súng, đạn. Học sinh từ 17 tuổi vào lớp này được học đủ các môn học phổ thông và cả nghiệp vụ sư phạm.

Bà Trần Thị Ngọc Diệu - nguyên Trưởng ban Tuyên giáo Huyện ủy Châu Thành, giáo sinh Khóa Sư phạm sơ trung cấp kể: Hồi đó, trước khi khai giảng năm học, giáo viên cùng với giáo sinh xin lá dừa, cây của dân xây cất trường lớp, đào hầm tránh bom đạn. Trường như đơn vị tác chiến độc lập, địch đánh phá ban ngày, trường học ban đêm. Với phương châm nơi nào có vùng giải phóng, nơi đó có trường lớp cách mạng, địch càn quét nơi này, trường dời địa điểm qua địa phương khác. “Ngày đó, ai đi học không có tiền thì quần chúng nhân dân nuôi. Giáo sinh đi học về cùng người dân lao động, đi đánh lá mía, vác mía, đi cấy… gây quỹ cho lớp. Cực khổ, vất vả mà ai nấy háo hức, học hành chăm chỉ, hăng say lao động, rất nhiệt huyết không ai muốn rút lui”, bà Trần Thị Ngọc Diệu phấn khởi kể.

Trong vòng 12 tháng, trụ sở trường phải di dời 4 điểm chính, 3 điểm phụ. Điểm cuối cùng trường về xã Lương Phú (Giồng Trôm) nhưng bị bỏ bom dữ dội. Lúc này, các giáo sinh chia làm 3 đoàn đi thực tập tại: Long Mỹ, Phước Long, Tân Hào (Giồng Trôm). Khi thực tập xong trở về trường tiếp tục học để thi tốt nghiệp. Kết quả, 100% giáo sinh thi đậu và hoàn thành nội dung chương trình khóa học một cách xuất sắc.

Vẹn nguyên ký ức hào hùng

Với sự quan tâm lãnh đạo của Tỉnh ủy, sự quyết tâm chỉ đạo sát sao của Tiểu ban Giáo dục, cùng với sự yêu thương đùm bọc, che chở của người dân, của cấp ủy, chính quyền nơi trường đóng quân lúc bấy giờ đã sản sinh ra những con người kiên cường đánh Mỹ cứu nước, với nhiều nhiệm vụ khác nhau mà Đảng cần, tổ chức phân công. Theo ông Ngô Hải Phong, những giáo sinh hồi ấy trở thành những cán bộ, lãnh đạo trong và ngoài ngành giáo dục. Một số trong số đó đã trở thành cán bộ, lãnh đạo, là sĩ quan trung cao cấp trong quân đội và công an, là đại biểu Quốc hội chuyên trách, cán bộ Ban Tuyên giáo, đại biểu HĐND các cấp…

Bà Nguyễn Thị Huỳnh Anh - nguyên Trưởng phòng GD&ĐT huyện Châu Thành, giáo sinh Khóa Sư phạm sơ trung cấp cho hay: Tuy khóa sư phạm đầu tiên nhưng nội dung chương trình đào tạo rất toàn diện, phong phú. Có thời gian dài học đủ các môn: Văn, Sử, Địa, Toán, Lý, Hóa, Sinh, Giáo dục, phương pháp dạy học, tâm lý giáo dục, dạy thực hành. Đặc biệt, người học được trải nghiệm rất nhiều thực tiễn trong chiến tranh. Khi có giặc càn quét, số nữ sinh “hợp pháp” trà trộn trong dân được người dân che chở, số nam nữ “bất hợp pháp” trốn vào hầm bí mật hoặc đi theo các lực lượng khác chạy càn. Số có vũ trang kết hợp với du kích “chống càn” bắn trả để tự vệ, hoặc bắn máy bay khi nó thả bom xuống trường.

Tháng 6-1966, giáo sinh hăng hái, phấn khởi nhận quyết định phân công công tác của Tiểu ban Giáo dục tỉnh về làm giáo viên ở các trường phổ thông cấp I, cấp II trong toàn tỉnh. Ngày ra trường, có đoàn giáo viên mới đi nhận nhiệm vụ dạy học ở huyện Ba Tri, Bình Đại, Châu Thành phải qua tỉnh lộ Lương Hòa - Phong Nẫm, Phong Mỹ, cả đoàn vướng trái nổ của giặc gài làm bị thương 4 người. Khó khăn, nguy hiểm nhưng các giáo sinh vẫn không hề nao núng, kiên quyết hoàn thành nhiệm vụ được giao.

Nguyên Ủy viên Ủy ban Văn hóa, Giáo dục của Quốc hội khóa VII và khóa VIII, giáo sinh của Khóa Sư phạm sơ trung cấp Hồ Thị Hồng Nhung cho biết: “Ra đời trong bão lửa chiến tranh, khóa học này rất đặc biệt, là lớp đầu tiên cũng là cuối cùng của tỉnh. Ra trường dạy được vài năm, lúc bấy giờ, giặc tấn công dữ dội, ngành giáo dục tản ra nhỏ lẻ, làm từng phong trào nhỏ và làm công tác trí vận để chuẩn bị cho cuộc tổng tấn công Mậu Thân năm 1968. Các giáo sinh lúc bấy giờ không còn trực tiếp huy động lớp dạy mà phải xung vào trận chiến ác liệt hơn”.

Bà Hồ Thị Hồng Nhung cho biết, kể từ ngày giáo sinh khóa học chia tay nhau đến nay, chưa có tư liệu nào ghi chép lại khóa học này. Trong giai đoạn ấy, khóa học đã góp phần tích cực phát triển giáo dục của tỉnh, lá cờ đầu trong phong trào giáo dục cách mạng Trung Nam Bộ. Sau Khóa Sư phạm sơ trung cấp của tỉnh, tại Bến Tre có nhiều lớp sư phạm ra đời do Khu Trung Nam Bộ mở tại tỉnh, giáo sinh của cả khu vực.

Trong hồi ức của các cựu giáo sinh thời ấy, chặng đường xây dựng và trưởng thành của Khóa Sư phạm sơ trung cấp với những câu chuyện tưởng là huyền thoại nhưng đây là ký ức không thể xóa nhòa. Những dấu ấn tốt đẹp, một thời oanh liệt của giáo sinh góp phần làm rạng rỡ thêm lịch sử xây dựng và phát triển nền giáo dục cách mạng của tỉnh. Điều này rất đáng ghi nhận, lưu truyền, góp phần hun đúc những thế hệ giáo sinh đầy bản lĩnh, tâm huyết, trách nhiệm, khát vọng phát triển ngành GD&ĐT quê hương xứ Dừa.

“Với thành tích của thầy trò Trường Sư phạm sơ trung cấp, Đảng, Nhà nước khen và tặng thưởng nhiều huân chương, huy chương quý báu. Tổ quốc ghi công 9 thầy trò là liệt sĩ chống Mỹ cứu nước gồm: 2 giáo viên và 7 giáo sinh”.

(Ông Ngô Hải Phong - nguyên Phó trưởng ty Giáo dục tỉnh Bến Tre, giáo viên Khóa Sư phạm 1965 - 1966 tỉnh Bến Tre)

 
Trang 1 của 12

Danh mục

Đăng nhập