Sở Giáo dục và Đào Tạo Bến Tre

Tin tức - sự kiện

Công bố các chương trình liên kết đào tạo đã được phê duyệt

Email In PDF.

(GD&TĐ)-Bộ GD&ĐT đã công bố danh mục các chương trình liên kết đào tạo với nước ngoài của các trường đại học trực thuộc Bộ GD&ĐT đã được phê duyệt. Danh sách cập nhật đến ngày 20/8/2010. Danh sách này không bao gồm các chương trình liên kết đào tạo với các ĐHQG và ĐH vùng cấp phép.

Lễ nhận bằng tốt nghiệp của một chương trình liên kết đào tạo với nước ngoài.

 

 

 

Danh sách hồ sơ NGND, NGƯT đủ điều kiện bỏ phiếu

Email In PDF.

(GD&TĐ) - Ngày 25/8/2010 Hội đồng xét tặng danh hiệu NGND-NGƯT Bộ GD&ĐT đã họp phiên toàn thể lần thứ nhất sơ duyệt danh sách hồ sơ NGND, NGƯT đủ điều kiện đưa vào danh sách bỏ phiếu tại phiên họp lần thứ hai.

Kết quả danh sách sơ duyệt xem tại Đây

 

Bộ trưởng Bộ GD-ĐT Phạm Vũ Luận: Chú trọng dạy học sinh làm người

Email In PDF.
TT - Trước thềm năm học mới, Bộ trưởng Bộ GD-ĐT Phạm Vũ Luận đã có cuộc trao đổi với báo chí. Đây là năm học đầu tiên ông điều hành ngành giáo dục ở cương vị bộ trưởng. Ông nói:

- Năm học mới 2010-2011 đối với giáo dục phổ thông, ngành giáo dục sẽ thực hiện nhiều nhiệm vụ quan trọng nhằm tập trung nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục. Bộ GD-ĐT sẽ tập trung chỉ đạo thực hiện nhiều nội dung mới: phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi, thí điểm dạy tiếng Anh từ lớp 3 đối với học sinh tiểu học, bắt đầu triển khai đề án phát triển hệ thống trường THPT chuyên... Đặc biệt, từ năm học này bộ sẽ tổ chức triển khai chương trình giáo dục kỹ năng sống cho học sinh.

Nhiệm vụ trọng tâm của ngành giáo dục trong năm học mới này là: nâng cao chất lượng, hiệu quả dạy chữ; từng bước đẩy mạnh hướng nghiệp, dạy nghề ở các địa phương có điều kiện và chú trọng vấn đề dạy làm người trong nhà trường.

Học sinh Trường tiểu học Xuân Lâm (Phú Yên) vui chơi trong ngày khai giảng. Đây là ngôi trường mới. Năm ngoái, lũ đã cuốn phăng ngôi trường cũ, các em phải học ngoài trời nhiều tuần lễ - Ảnh: THANH HIỀN

Dạy kỹ năng sống cho học sinh

* Chương trình giáo dục kỹ năng sống sẽ được bộ triển khai trong các nhà trường phổ thông như thế nào?

- Giáo dục kỹ năng sống chính là một cấu phần quan trọng trong việc “chú trọng vấn đề dạy người trong nhà trường” mà chúng tôi đã xác định là nhiệm vụ trọng tâm của năm học này. Chúng tôi mong muốn sẽ trang bị cho các em những hiểu biết và kỹ năng cần thiết trong ứng xử, có cách giải quyết phù hợp với các tình huống nảy sinh trong cuộc sống, có lối sống lành mạnh, sống có trách nhiệm hơn với bản thân, gia đình và cộng đồng.

Trên cơ sở chương trình khung (chung), bộ sẽ chỉ đạo các địa phương tùy theo điều kiện cụ thể của mình để vận dụng, lồng ghép, xây dựng nội dung giáo dục kỹ năng sống phù hợp. Ví dụ đối với vùng sông nước phải chú trọng dạy các em kỹ năng bơi lội, ứng phó với lũ lụt, ở thành thị cần chú trọng đến các nội dung về phòng chống tai nạn giao thông, không nghiện game online. Trên cơ sở đó, các nội dung giáo dục kỹ năng sống sẽ được thiết kế theo hướng “mở”, phù hợp với điều kiện thực tiễn và nhu cầu của HS từng địa phương, vùng miền.

Đối với việc phòng chống bạo lực học đường, Bộ GD-ĐT đã ký kết với các bộ, với Trung ương Đoàn, Trung ương Hội Liên hiệp phụ nữ VN và Hội Khuyến học VN để phối hợp cùng với nhà trường trên địa bàn có những biện pháp quản lý, giáo dục học sinh ngoài giờ học. Bộ cũng đã đề nghị ngành công an phối hợp chặt chẽ để phát hiện, ngăn chặn và xử lý kịp thời các vụ việc liên quan đến tệ nạn xã hội và bạo lực, nhất là những vụ việc xảy ra bên ngoài nhà trường.

* Bộ có giải pháp nào mang tính đột phá để nâng cao chất lượng giáo dục phổ thông không?

- Trong giáo dục, tôi không nghĩ là dễ dàng có sự đột biến về chất lượng. Hôm nay còn theo một phương pháp cũ, ngày mai khi bắt đầu năm học mới, ta phát động phong trào đổi mới phương pháp giảng dạy mà đòi hỏi có ngay sự thay đổi trong cả hệ thống là không thực tế.

"Nhân dịp đầu năm học mới, tôi muốn chia sẻ với các bậc phụ huynh suy nghĩ này: khó khăn trong giáo dục còn nhiều, để giải quyết được những khó khăn đó, chúng ta phải cùng nỗ lực vì một tương lai giáo dục tươi sáng hơn"

Bộ trưởng PHẠM VŨ LUÂN

Bộ GD-ĐT đã kiên trì chỉ đạo trong nhiều năm chủ trương đổi mới phương pháp giảng dạy, kết hợp với rà soát đổi mới chương trình để việc đổi mới phương pháp giảng dạy dần dần thấm đến từng giáo viên. Đồng thời chúng tôi cũng khuyến khích bản thân mỗi giáo viên nỗ lực tìm tòi đổi mới trong phương pháp giảng dạy của mình. Sự chủ động đổi mới phương pháp giảng dạy của mỗi giáo viên, của từng khâu, từng bộ phận theo sự chỉ đạo và kịch bản chung sẽ tạo nên sự thay đổi cách mạng về phương pháp của toàn ngành.

Xin phụ huynh cùng nỗ lực

* Lời khẳng định “năm 2010 giáo viên sẽ sống được bằng lương” như thế nào, thưa bộ trưởng?

- Lương của ngành giáo dục cũng phải đặt trong bối cảnh chung của Nhà nước, chứ không thể giải quyết riêng cho ngành giáo dục. Tuy nhiên, chúng tôi cũng đang rất tích cực cải thiện tình hình thu nhập cho giáo viên.

* Bộ trưởng có biện pháp gì để chấn chỉnh tình trạng lạm thu tiền trường đầu năm vốn năm nào cũng gây bức xúc trong dư luận xã hội?

- Đối với những khoản được coi là lạm thu, nhà trường không thể thực hiện nếu không được phụ huynh đồng tình. Tôi biết có không ít người với tư cách công dân thì phản đối các khoản thu không đúng quy định, nhưng với tư cách phụ huynh học sinh vẫn luôn sẵn sàng rút tiền ra nộp.

Tôi xin đề nghị tất cả các bậc phụ huynh cùng ủng hộ chủ trương của ngành giáo dục chống lạm thu tiền trường sai quy định.

* Trở thành bộ trưởng Bộ GD-ĐT từ một nhà quản lý giáo dục ĐH, trong khi đứng đầu ngành giáo dục phải quản lý cả mảng giáo dục phổ thông rộng lớn và rất đa dạng, ông cảm thấy như thế nào?

- Ngay đối với giáo dục ĐH, lĩnh vực thuận lợi nhất của tôi, tôi thấy mình cũng cần phải tìm hiểu nhiều hơn nữa. Còn đối với những mảng mình chưa từng quản lý thì việc phải tìm hiểu, học hỏi là điều đương nhiên. Trong sáu năm làm thứ trưởng, tôi cũng tích lũy được một số kinh nghiệm khi tham gia hoạt động của các ban chỉ đạo Tây Bắc, Tây nguyên và Tây Nam bộ, thường xuyên tìm hiểu, bàn bạc về giáo dục - đào tạo ở các địa bàn này, phần lớn là bàn về giáo dục phổ thông. Khi tôi đã hiểu được tình hình giáo dục phổ thông ở những địa bàn khó khăn nhất của đất nước, tôi sẽ có những thuận lợi khi đánh giá về tình hình giáo dục ở những địa bàn, vùng miền khác.

Một may mắn nữa của tôi là có con còn đang trong độ tuổi học sinh phổ thông. Con lớn của tôi mới rời phổ thông vài năm nay, con nhỏ đang là học sinh THCS. Trước đây cháu học ở một trường dân lập và mới chuyển về một trường công lập gần nhà. Những năm trước, tôi thường đi họp phụ huynh cho các con. Chỉ gần đây, do điều kiện công việc, tôi mới không đi họp phụ huynh cho con được. Như vậy, khi nhìn nhận về giáo dục phổ thông nói riêng và giáo dục nói chung, tôi còn đứng trên cương vị một phụ huynh học sinh để cùng vui niềm vui và lo nỗi lo của đông đảo phụ huynh học sinh trong cả nước.

* Xin cảm ơn bộ trưởng.

THANH HÀ thực hiện

 

5 bộ, ngành ký kết thực hiện phong trào “Xây dựng THTT, HSTC”

Email In PDF.

(GD&TĐ) - Chiều nay 1/9 tại Hà Nội, Bộ GD&ĐT cùng các bộ, ngành (VH, TT&DL, Trung ương đoàn TNCSHC, Hội LHPN VN, Hội khuyến học) đã ký kết kế hoạch liên tịch chương trình phối hợp thực hiện phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” năm học 2010 – 2011. Tham dự lễ ký kết có Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Thiện Nhân, Bộ trưởng Bộ GD&ĐT Phạm Vũ Luận, cùng các Thứ trưởng Nguyễn Vinh Hiển; Nguyễn Thị Nghĩa; Thứ trưởng Bộ VH, TT&DL - Trần Chiến Thắng; Nguyễn Đắc Vinh – Bí Thư T.Ư Đoàn TNCS HCM; phó Chủ tịch Hội LHPN VN - Hoàng Thị Ái Nhiên; phó Chủ tịch Hội khuyến học VN - Phạm Tất Dong và các Vụ chức năng của Bộ GD&ĐT...

Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân phát biểu tại lễ ký kết
 

Kế hoạch phối hợp liên ngành giữa Bộ GD&ĐT, Bộ VH, TT&DL, Đoàn TNCS HCM, Hội LHPN VN, Hội Khuyến học VN phối hợp hoạt động nhằm triển khai, nâng cao chất lượng và hiệu quả  phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, HS tích cực” trong năm học 2010-2011. Mỗi Bộ, ngành, đoàn thể đóng góp vào phòng trào thi đua phù hợp với thế mạnh của mình và thông qua kế hoạch phối hợp để phát huy sức mạnh tổng hợp trong việc chăm lo sự nghiệp “trồng người”, vì tương lai của mỗi gia đình và sự phát triển của đất nước. 

Theo kế hoạch phối hợp, Ngành GD&ĐT chỉ đạo tập trung theo ngành dọc, có sự phối hợp thống nhất, chặt chẽ giữa các bộ ngành; đảm bảo việc thực hiện một cách sáng tạo và có hiệu quả những nội dung của phong trào thi đua ở các cơ sở GD và các đơn vị phối hợp trên địa bàn; chú trọng tới chiều sâu, tính hiệu quả của phong trào và làm rõ  sự chuyển biến tích cực của HS thông qua các hoạt động; đảm bảo trường, lớp an toàn, xanh, sạch, đẹp; đổi mới phương pháp dạy học, đẩy mạnh triển khai áp dụng các phương pháp dạy học hiệu quả, ứng dụng CNTT trong dạy học. Chuẩn hóa các nội dung về quản lí, tổ chức dạy học và hoạt động của nhà trường. Tăng cường vai trò của Hiệu trưởng, GV chủ nhiệm, Bí thư Đoàn, Tổng phụ trách Đội trong việc thực hiện phong trào thi đua. Phát huy tính tích cực của HS, tăng cường rèn luyện thói quen và năng lực tự học, làm việc theo nhóm, hỗ trợ nhau trong nhóm học tập, rèn luyện ở trường, ở nhà và ở cộng đồng; triển khai GD kỹ năng sống cho HS phổ thông trong một số môn học và hoạt động GD; xây dựng và phát triển mạng lưới thư viện trường học, sử dụng có hiệu quả thư viện công và bảo tàng ở địa phương, nâng cao chất lượng dạy và học lịch sử, văn hóa địa phương.

5 Bộ, ngành ký kết vào bản kế hoạch phối hợp thực hiện
 

Ngành VH, TT&DL phối hợp tổ chức các hoạt động văn hóa, văn nghệ, trò chơi dân gian cho HS trong và ngoài trường học, tổ chức Ngày Di sản văn hóa – Ngày về nguồn (23/11/2010) và tiếp tục tổ chức bàn giao nội dung thuyết minh các di tích và danh lam thắng cảnh cấp quốc gia, cấp tỉnh; hướng dẫn và đánh giá kết quả chăm sóc để nâng cao hiệu quả GD lịch sử, truyền thống với các hình thức phong phú từ thực tiễn. Các bên hưởng ứng và phát huy giá trị văn hóa 1000 năm Thăng Long – Hà Nội...

Hội phụ nữ rà soát ở tất cả các cơ sở, tổng hợp số lượng trẻ em có hoàn cảnh khó khăn trong việc đến trường do thiếu ăn, thiếu mặc, thiếu sách vở, đồ dừng học tập... Tổ chức cho các bà mẹ có con đang học ở mầm non, phổ thông được bồi dưỡng kiến thức, kĩ năng chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ, kĩ năng sống cho HS mầm non và phổ thông..., có hướng dẫn và tổng kết trước ngày 30/5/2011. Hội khuyến học có kế hoạch hỗ trợ cho trẻ em nghèo đến trường, báo cáo lãnh đạo địa phương, các cấp quản lí theo ngành dọc để thực hiện các nội dung và chủ động xây dựng kế hoạch thực hiện các nội dung của phong trào thi đua nhằm phù hợp với điều kiện của địa phương...

Phát biểu tại lễ ký kết, Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Thiện Nhân đã đánh giá cao kết quả phối hợp trong thời gian qua, đồng thời nhấn mạnh sự hợp tác của 5 bộ, ngành  trong việc phối hợp tổ chức thực hiện phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” trong thời gian tới sẽ góp phần quan trọng vào sự phát triển của đất nước, vì sự phát triển của mỗi ngành, của giới trẻ...

Trên cơ sở các ý kiến và sự thống nhất cao tại buổi lễ, trước sự chứng kiến của Phó Thủ tướng, đại diện các Bộ, ngàng đã tham gia ký kết phối hợp theo 5 nội dung, đó là: Đảm bảo trường lớp an toàn, xanh, sạch, đẹp; đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính độc lập, sáng tạo của HS, gắn với thực tiễn; tăng cường giáo dục kỹ năng sống; đưa các trò chơi dân gian, hát dân ca và các loại hình sinh hoạt văn hóa dân gian vào trường học; hỗ trợ chăm sóc, tôn tạo và phát huy giá trị văn hóa của các di tích lịch sử, văn hóa, cách mạng...

Xem toàn bộ văn bản tại Đây

T. Toàn

 

Đào tạo SĐH ở Mỹ và kinh nghiệm đối với Việt Nam

Email In PDF.

(GD&TĐ)-Trong nửa năm ở Mĩ, được đi thăm một vài trường ĐH ở miền Đông nước Mĩ và tiếp xúc với một số nhà khoa học của họ, PGS.TS.Nguyễn Thị Bích Hà (Khoa Việt Nam học – Đại học Sư phạm Hà Nội) thấy rằng, cũng như Việt Nam, quy trình đào tạo và những nguyên tắc chung trong các trường ĐH không khác nhau nhiều.

Nhiều điều đáng học tập từ kinh nghiệm đào tạo SĐH ở Mỹ

Nâng cao nhất năng lực của người tiếp nhận đào tạo, đó là nhận định đầu tiên của PGS.TS.Nguyễn Thị Bích Hà đối với đào tạo SĐH ở Mỹ. PGS.Nguyễn Thị Bích Hà cho biết, ở Mĩ cũng có hệ đào tạo tại chức Thạc sĩ và Nghiên cứu sinh (NCS) nhưng không nhiều (và thường do các Bộ hoặc các tập đoàn lớn đầu tư để đào tạo chuyên gia cho ngành mình), còn phần lớn các trường ĐH đào tạo Thạc sĩ và NCS theo hệ chính quy. Thời gian đào tạo thạc sĩ từ 1 năm rưỡi đến 2 năm; Thời gian đào tạo tiến sĩ từ 3 đến 5 năm (5 năm là cho các NCS học thẳng tiến sĩ sau khi tốt nghiệp ĐH). Thời gian đó học viên dành hoàn toàn cho việc học. Nếu hết hạn mà chưa học xong thì họ vẫn đăng kí học tiếp cho đến khi hoàn thành chương trình mới thôi.

Chương trình đào tạo ĐH ở Mĩ khá nhẹ nhàng, nhưng chương trình đào tạo SĐH, đặc biệt đào tạo tiến sĩ thì khá nặng so với Việt Nam và một số nước khác (Xin xem: Vietnamese.vietnam.usembassy.gov; brownuniversity.edu.). Ví dụ: những vấn đề KHXH bình thường, các tác giả hay tác phẩm văn học quen thuộc không hoàn toàn là đối tượng nghiên cứu và đào tạo tiến sĩ. Những hiện tượng mới, gương mặt mới, khuynh hướng đang định hình hoặc đánh giá lại những sự kiện, nhân vật quan trọng thường được quan tâm nghiên cứu. Chẳng hạn, ở khoa Hoa Kỳ học tại đại học Brown có 3 chuyên đề đào tạo SĐH về chiến tranh Việt Nam là: Chiến tranh nhân dân ở Việt Nam; Những người Mĩ chống chiến tranh ở Việt Nam; Những người Việt Nam chống chiến tranh Việt Nam ở Mĩ. Hướng mở của các chuyên đề như vậy là rộng chứ không quá quen thuộc, họ ít phải lo về độ an toàn của các vấn đề nhạy cảm như ở Việt Nam! Tuy nhiên, để đáp ứng yêu cầu cao của việc đào tạo, môi trường đào tạo ở Mĩ rất rõ định hướng lấy người học làm trung tâm. Chẳng hạn, những ngày bình thường thư viện trường mở cửa đến 2 giờ sáng. Nếu bạn cần 1 cuốn sách mà thư viện trường không có, họ sẽ hỏi trên mạng lưới thư viện quốc gia hay các trường ĐH và nơi nào có, họ sẽ chuyển sách đến cho bạn mượn. Nếu bạn đi thư viện mà trời mưa hay lạnh hoặc không có phương tiện về, bạn gọi điện đến phòng phục vụ sinh viên của trường, họ sẽ mang xe đến đưa về miễn phí…

Bậc lương của sinh viên tốt nghiệp ĐH, thạc sĩ, tiến sĩ ở Mĩ khác nhau và điều đó khẳng định vị trí khác nhau ở các bậc học. Vì vậy, nhiều công ty hoặc cơ sở làm việc chỉ cần nhận cử nhân mà không nhận thạc sĩ hay tiến sĩ vì họ ngại phải trả lương cao cho một vị trí không cần thiết phải có học vị cao. Ở Mĩ, học càng cao, định hướng chuyên ngành càng sâu càng khó xin việc làm, vì các cơ sở có khả năng tiếp nhận những người có chuyên môn sâu không nhiều, nhưng nếu thạc sĩ và tiến sĩ đã ở đúng vị trí và bậc học của mình thì lương sẽ cao hơn hẳn lương cử nhân. Vì vậy, không phải ai cũng thích đi học thạc sĩ, NCS, nhưng nếu đã đi học thì xác định khá rõ tính chất chuyên sâu của ngành học, chấp nhận cả cơ hội lẫn khó khăn.

Trong trường ĐH, các học viên thạc sĩ hay NCS thường lên lớp nghe giảng những phần cơ bản cùng với SV, thời gian còn lại họ đi thực tế và đọc sách rất nhiều. Theo lịch hẹn, từ 1 đến 2 tuần trò mới có lịch làm việc với thày. Đến ngày làm việc đó, học viên báo cáo công việc mình đã làm, nêu vấn đề cần trao đổi hay nêu thắc mắc cần hỏi. Thày không rao giảng mà chỉ giải đáp thắc mắc. Vì vậy, nếu trò không nỗ lực tự làm việc thì không có gì để trao đổi với thày. Áp lực đó khiến học viên phải tự cố gắng rất nhiều. Ở Mĩ không có khái niệm “thông cảm”, “giảm nhẹ”, “mồm miệng đỡ chân tay” hoặc “thủ tục đầu tiên”… thày giáo không vì bất cứ lí do gì mà hạ thấp yêu cầu đào tạo. Vì vậy, có được tấm bằng SĐH thực sự là một sự khẳng định năng lực.

Các học viên thạc sĩ hay NCS cũng thường làm trợ giảng cho chính ông thày nhận hướng dẫn mình (thỉnh thoảng cũng có người trợ giảng cho thày khác). Mỗi tuần họ thường có 6 giờ làm việc với sinh viên, trong đó 4 giờ để chấm bài, chữa bài, tham dự seminar, còn 2 giờ để ngồi tại văn phòng của bộ môn (office hours) để các sinh viên có thắc mắc gì về nội dung bài giảng của thày hay đọc tài liệu có gì không hiểu thì đến văn phòng hỏi các trợ giảng. Muốn chấm được bài cho sinh viên hoặc để có thể trả lời được các câu hỏi của sinh viên, các học viên SĐH phải cố gắng vươn lên rất nhiều bằng cách tự học hoặc theo học các giáo sư. Nhờ thế mà trình độ của họ chắc chắn cao hơn sinh viên và luôn được sinh viên kính nể, tin cậy.      

Để trở thành giảng viên ĐH ở Mĩ, người ta phải có bằng tiến sĩ. Sau đó họ mới bắt đầu tham gia giảng dạy ở trường ĐH và thời gian đầu luôn thay đổi môi trường giảng dạy để gia tăng các mối quan hệ nghề nghiệp và kinh nghiệm (họ dạy ở trường A khoảng 2,3 năm, rồi chuyển trường B cũng khoảng đó,…các trường đó ở các thành phố khác nhau). Sau khi trở thành PGS họ mới ổn định vị trí làm việc của mình trong một trường ĐH nào đó và làm việc như một nhà khoa học thực thụ.

Yêu cầu tối thiểu đối với một GS đại học là phải có tập bài giảng riêng của mình. Nó có thể dày mỏng khác nhau, nhiều quyển hay ít quyển nhưng không thể không có, không thể giảng chay hoặc giảng bằng bài giảng của người khác. Như vậy, thày lên lớp không phải để rao giảng mà để trao đổi với người học trên cơ sở bài giảng của thày và TLTK đã có sẵn, học trò đọc trước và giờ làm việc trên lớp trở thành giờ tranh luận khá sôi nổi về những gì trò quan tâm. Những kiến thức trên lớp không bao giờ hoàn toàn nhắc lại những gì họ đã viết trong bài giảng.

Giáo viên thường giảng cho cả 3,4 đối tượng học viên cùng một giờ lên lớp (SV, học viên MA, NCS), nhưng tùy trình độ khác nhau, người học sẽ tiếp nhận tri thức thày truyền đạt khác nhau. Tất nhiên, ngoài những giờ lên lớp cho SV mà thày yêu cầu tất cả các trò của mình đi dự, còn có giờ làm việc riêng với thạc sĩ, NCS. Nhưng những giờ lên lớp chung sẽ bổ sung kiến thức cơ bản, phổ biến nhất, đòi hỏi mọi người học chuyên ngành đó đều phải nắm vững. Hơn nữa, giờ học chung sẽ là lúc thày truyền dạy phương pháp và kiến thức cho NCS để họ tiếp tục làm việc với SV. Cách thức như vậy sẽ tận dụng tối đa thời gian và chất xám của thày.

Sau giờ lên lớp, thày ra chủ đề thảo luận, ra bài kiểm tra, bài thi cho SV. Nhưng người trực tiếp làm việc với SV, tham dự các buổi seminar, chấm bài kiểm tra, bài thi cho SV không phải là GS mà chính là các học viên thạc sĩ hoặc NCS (các trợ giảng của GS). Đấy cũng là một cách đào tạo học viên SĐH rất tốt. Nếu họ không nâng cao năng lực của mình, họ sẽ không thể chấm bài, chữa bài hoặc giải đáp thắc mắc cho SV.

Như vậy có phải các GS quá nhàn rỗi không? Không, họ phải làm việc rất nặng nề và chịu nhiều sức ép. Họ thường được mời đi dạy ở các trường ĐH, dự hội thảo hoặc thỉnh giảng trong và ngoài nước, nghiên cứu và hướng dẫn nghiên cứu… Đặc biệt, họ phải kéo được các dự án từ Chính phủ hoặc các Bộ, Ngành, Công ty… về để có kinh phí cho trường và để “nuôi” các NCS, các trợ giảng của mình. Đó được coi là một phẩm chất khoa học của ông thày. Bởi nếu đề tài dự án không có sức thuyết phục, không có giá trị thực tiễn thì sẽ không tranh được kinh phí. Cũng nhờ vậy mà các NCKH của họ thường có khả năng thực thi cao, kết quả nghiên cứu nhanh chóng được sử dụng trong đời sống và nguồn phúc lợi của các trường ĐH thường khá dồi dào. Đó là nhờ lao động trí tuệ của các nhà khoa học trong trường ĐH.

Những điều trình bày trên mới chỉ là ở một số trường đại học, nhưng không phải tất cả các trường đại học ở Mĩ đều có những ưu điểm đó. Nhiều chuyên gia giáo dục cho rằng các đại học ở Mĩ rất không đồng đều và cũng có nhiều bất cập (bài viết này chưa đề cập sâu).

Giảng đường học viện Massachusetts
Giảng đường học viện Massachusetts

Kinh nghiệm gì cho đào tạo SĐH ở Việt Nam?

Khẳng định, đào tạo SĐH trong nước là một thành tựu lớn của ngành GD&ĐT nước ta, PGS.TS.Nguyễn Thị Bích Hà minh chứng: Đến nay chúng ta đã đào tạo được hàng vạn thạc sĩ và hàng ngàn tiến sĩ, TSKH. Nhiều trong số đó đã đi tiếp và khẳng định vị trí khoa học của mình ở trong và ngoài nước. Từ chỗ những NCS đầu tiên làm luận án rất khó khăn và lúng túng vì chính các thày cũng đang tìm đường (chúng tôi nhớ, hội đồng chấm luận án tiến sĩ KHXH đầu tiên gồm 13 GS), đến nay hoạt động này đã được quy chuẩn hóa dần và đường hướng rõ ràng hơn nhiều. Đó là điều rất đáng được khẳng định.

Tuy nhiên, PGS.TS.Nguyễn Thị Bích Hà nhận định không thể chủ quan mà nói rằng, đó đều là công đào tạo của chúng ta hoặc chúng ta đã tổ chức đào tạo tốt. Cũng không nên nói như một số nhà quản lí đã từng nói rằng, đối với đất nước VN, chúng ta nghèo, thiếu kinh nghiệm… được như vậy đã là tốt rồi. Cần bỏ dần những suy nghĩ đó để tham gia hội nhập một cách công bằng hơn và để không tự thỏa mãn với những gì mình đang có. Theo PGS.TS.Nguyễn Thị Bích Hà, với những gì nhà nước và nhân dân đã dành cho ngành giáo dục, chúng ta hoàn toàn có thể làm tốt hơn thế này, riêng với đào tạo SĐH, chúng ta càng có thể làm tốt hơn.

Đặt vấn đề về sự lãng phí chất xám, PGS.TS.Nguyễn Thị Bích Hà cho rằng, hiện tượng này ở Việt Nam có thể khắc phục được.

“Tôi có nhiều học trò, sau khi tốt nghiệp ĐH, chưa tìm được việc làm, họ liền đi học tiếp thạc sĩ mà không cần biết mình học để làm gì. Tôi cho đó là sự lãng phí chất xám và lãng phí thời gian, kinh phí đào tạo. Mục tiêu của viêc học như vậy là không rõ ràng từ phía người học. Hơn nữa, không phải môi trường làm việc nào cũng cần và sử dụng hết trình độ thạc sĩ trở lên. Vì vậy, mặc dù thạc sĩ và tiến sĩ của VN chưa nhiều, nhưng cũng cần xét rõ mục tiêu đối với người và ngành học để tránh sự lãng phí” - PGS.TS.Nguyễn Thị Bích Hà đưa ra dẫn chứng về sự lãnh phí chất xám..

Kinh nghiệm sử dụng lực lượng học viên thạc sĩ và NCS ở Mĩ theo PGS là tốt. Đây là nguồn chất xám dồi dào đang bị chúng ta bỏ phí, trong khi các GS của chúng ta chưa nhiều nhưng phải ngồi chấm từ bài kiểm tra điều kiện và đề cương seminar của SV. Nên sử dụng tốt hơn đội ngũ học viên thạc sĩ và NCS trong quá trình đào tạo để giảm gánh nặng sự vụ cho các ông thày và để nâng cao chất lượng đào tạo cho chính các học viên SĐH. Việc sử dụng đội ngũ trợ giảng có thể làm được trong trường ĐH của ta, nhưng nếu không đưa vào quy chế thì các thày không thể đòi hỏi sự tham gia của các học viên và không thể tận dụng được nguồn lực dồi dào này. Sau khi đi Mĩ về, tôi thử học tập kinh nghiệm của họ bằng cách đề nghị học viên của tôi tham dự các buổi seminar với SV và cùng chấm bài kiểm tra. Nhưng các học viên vẫn phải tham gia giảng dạy ở địa phương, hơn nữa việc đào tạo theo cách đó không nằm trong quy chế. Vì vậy, tôi chỉ có thể “nhờ” họ mà không thể đòi hỏi họ tham gia như một hình thức đào tạo.

Một trong những nhu cầu cấp thiết của hội nhập quốc tế là phải giao lưu. Cầu nối của sự giao lưu ấy chính là ngoại ngữ. Hiện nay các nhà khoa học các nước thường sử dụng chung một ngoại ngữ trung gian là tiếng Anh để trao đổi. Hơn nữa, các tài liệu về KHXH bằng tiếng Anh là phổ biến và phong phú nhất. Tuy nhiên, không chỉ tiếng Anh mà biết một ngoại ngữ nào gần với ngành học cũng đều rất quý và rất bổ ích trong nghiên cứu và giao lưu, hội nhập. Nếu không biết ngoại ngữ, người ta sẽ mất tự tin khi ra nước ngoài và công việc sẽ kém hiệu quả.

Tuy nhiên NCS, đặc biệt là NCS khoa học xã hội hiện nay kém ngoại ngữ. Như vậy, đối với họ, cánh cửa hội nhập quốc tế về NCKH chưa được mở. Sau khi thi ngoại ngữ để làm NCS hầu như người học không sử dụng ngoại ngữ nữa. Ngoại trừ các NCS vốn là giảng viên của một số trường ĐH có ý thức rèn ngoại ngữ, số còn lại không thể sử dụng được ngoại ngữ nào vào việc nghiên cứu đề tài.

Từ nhu cầu và thực trạng về trình độ ngoại ngữ của người học, PGS.Hà đề nghị các cơ sở đào tạo cần quan tâm hơn nữa đến việc tổ chức đào tạo ngoại ngữ, không phải chỉ học mấy tháng khi bắt đầu thi vào mà phải học để sử dụng được. Hơn nữa, cần nâng cao trình độ chuyên môn, chuyên ngành cho giáo viên ngoại ngữ ở các cơ sở đào tạo để họ đảm trách được nhiệm vụ nặng nề này.

Ghi nhận những thành tựu đào tạo SĐH hơn 30 năm, bên cạnh đó, PGS.Hà cũng chỉ ra một số hạn chế tồn tại. Đó là, việc tổ chức đào tạo ở một số khâu vẫn khá tùy tiện, chưa đạt chuẩn, chưa chính quy. Đa số giáo viên dạy SĐH về KHXH đều dạy chay, không có tập bài giảng chuyên đề riêng cung cấp cho học viên. Ở một số môn học, học viên phàn nàn rằng bài giảng của giáo viên không khác gì so với bài giảng cho họ khi còn là SV đại học.

Hiện nay người học, đặc biệt là học viên Hà Nội thường vừa đi học vừa kiêm nhiệm giảng dạy. Điều này khiến cho thời gian theo học của họ không đều và không thể toàn tâm toàn ý cho việc học. Lâu nay chúng ta thường lấy sự cảm thông thay cho nhiều quy tắc đối với việc học vì vậy mà mọi yêu cầu thường tự được nới lỏng. Kết quả là học viên học như thế nào tùy thuộc sự tự giác của họ chứ ít phụ thuộc vào quy chế đào tạo, nhưng kết quả luận văn tốt nghiệp của thạc sĩ thường giới hạn trong khoảng hẹp từ 9.5 đến 10 (kết quả xuất sắc). Kết quả đó chưa phản ánh đúng chất lượng đào tạo. Không đề nghị phải kéo kết quả điểm đào tạo xuống thấp hơn, PGS.Hà đưa ra đề nghị, cần nâng cao tổ chức và chất lượng đào tạo để kết quả đó gần với thực chất hơn.
 

Hiếu Nguyễn (ghi)

 
Trang 1 của 25

Danh mục

Đăng nhập