Sở Giáo dục và Đào Tạo Bến Tre

Học tập

Bí kíp giáo dục tư tưởng đại đoàn kết dân tộc trong dạy học Lịch sử

Email In PDF.

 GD&TĐ - Cô Nguyễn Thị Tuyết Mai - giáo viên Trường THPT chuyên Bến Tre - cho biết: Qua nghiên cứu, khảo sát, nhiều giáo viên chưa quan tâm đúng mức bồi dưỡng học sinh tư tưởng đại đoàn kết dân tộc. 

Do vậy, việc giáo dục tư tưởng đại đoàn kết  dân tộc thông qua những bài dạy lịch sử cụ thể là yêu cầu bức thiết.

Để thực hiện điều này, trước hết, giáo viên cần nghiên cứu kĩ nội dung từng bài dạy để liên hệ lồng ghép nội dung giáo dục nhằm đạt được mục đích đề ra. Đồng thời, nghiên cứu kỹ về tư tưởng Hồ Chí Minh nói về đại đoàn kết dân tộc …

Sau đó, áp dụng cụ thể vào bài dạy; rút kinh nghiệm, điều chỉnh, bổ sung cho phù hợp với đối tượng và thực hiện tiếp...

Về phía học sinh, cần tập sưu tầm tư liệu về đại đoàn kết  dân tộc, tham gia xây dựng bài học; rèn luyện khả năng phân tích, đánh giá, tổng hợp, dự đoán; rèn luyện tính độc lập suy nghĩ. Khi học, học sinh nên  tự đặt ra vấn đề để giải quyết.

Giáo dục tư tưởng đại đoàn kết dân tộc được cô Nguyễn Thị Tuyết Mai áp dụng cụ thể trong từng bài dạy lịch sử như sau: 

Bài 14: Phong trào cách mạng 1930-1935.

Nội dung

Biện pháp tiến hành

Giáo dục tư tưởng

Mục II. Phong trào Cách mạng 1930-1931 với đỉnh cao Xô viết Nghệ- Tĩnh:

Phong trào CM 1930-1931 là phong trào đấu tranh do Đảng lãnh đạo diễn ra trên qui mô toàn quốc, lôi cuốn đôn đảo các tầng lớp tham gia, tiêu biểu là công nhân và nông dân.

* GV giới thiệu và phân tích thêm: Giữa lúc cao trào cách mạng đầu tiên mà đỉnh cao là Xô viết Nghệ Tĩnh đang diễn ra rầm rộ, ngày 18/11/1930, Ban Thường vụ trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương ra chỉ thị thành lập Hội phản đế đồng minh

*GV hỏi:Tại sao Đảng lại thành lập Hội phản đế đồng minh?

-HS tư duy trả lời và qua đó Gv nêu lên tầm quan trọng của việc đoàn kết dân tộc để chống kẻ thù chung.

 

 

 

*Qua việc Đảng thành lập tổ chức Hội phản đế đồng minh

à đây là hình thức đầu tiên của Mặt trận dân tộc thống nhất Việt Nam.

* Qua đây GV đã giáo dục được nền tảng đầu tiên để hình thành tư tưởng Đại đoàn kết dân tộc.

Bài 15: Phong trào dân chủ 1936-1939

Nội dung

Biện pháp tiến hành

Giáo dục tư tưởng

Mục II; Phong trào dân chủ 1936- 1939:

1. Hội nghị BCH TW Đảng CS Đông Dương ( 7/1936):

-chủ trương thành lập Mặt trận thống nhất nhân dân phản đế Đông Dương

 

* GV phân tích: Trong quá trình cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, nội dung và hình thức tổ chức của Mặt trận có sự thay đổi phù hợp với nhiệm vụ cách mạng từng lúc, từng nơi. Đó là Mặt trận thống nhất nhân dân phản đế Đông Dương, đến 3/1938 đổi thành Mặt trận dân chủ Đông Dương trong những năm đấu tranh hợp pháp 1936 – 1939.

*GV phát vấn: So sánh lực lượng tham gia 2 tổ chức Hội phản đế đồng minh Mặt trận thống nhất nhân dân phản đế Đông Dương.

*GV mở rộng thêm: Ngày 30/10/1936, Đảng Cộng sản Đông Dương đưa ra chính sách mới nhằm khắc phục những sai lầm trong nhận thức và hành động trong quá trình thực hiện liên minh thời kỳ trước. Đảng Cộng sản Đông Dương chủ trương thành lập Mặt trận Thống nhất Nhân dân Phản đế nhằm cụ thể hóa chính sách này. Việc tập hợp lực lượng trong Mặt trận được công khai qua bức thư ngỏ của Đảng Cộng sản Đông Dương gửi cho Chính phủ Mặt trận Nhân dân Pháp bày tỏ sự đồng tình với nhân dân Pháp, kêu gọi ban hành một số quyền tự do dân chủ cơ bản cho nhân dân Đông Dương và hô hào "tất cả các đảng phái chính trị, tất cả các tầng lớp nhân dân Đông Dương tham gia Mặt trận nhân dân Đông Dương"à đoàn kết quốc tế.

*GV liên hệ tình hình hiện nay.

*Sự chuyển hướng sách lược của Đảng CS Đông Dương phù hợp với tình hình mớià quan điểm của Hồ Chí Minh được đảng vận dụng một cách sáng tạo trong thời kì này “Người căn dặn, trong từng thời kỳ, từng giai đoạn cách mạng có thể và cần thiết phải điều chỉnh chính sách và phương pháp tập hợp cho phù hợp với những đối tượng khác nhau,…”.

 

 

 

àHS nhận thức được rằng đến thời kì 1936-1939 Đảng tập hợp lực lượng"tất cả các đảng phái chính trị, tất cả các tầng lớp nhân dân Đông Dương tham gia Mặt trận Thống nhất nhân dân Đông Dương" nhằm đấu tranh đòi dân sinh dân chủ.

à Giáo dục tư tưởng đoàn kết quốc tế cho HS: Trong tư tưởng Hồ Chí Minh: Người chủ trương đoàn kết rộng rãi, chặt chẽ và lâu dài toàn dân tộc thành một khối. Đoàn kết dân tộc kết hợp với đoàn kết quốc tế sẽ tạo ra sức mạnh to lớn để chiến thắng mọi kẻ thù.

 

 

 

.à Trang bị cho HS tinh thần đoàn kết quốc tế.

Bài 16: Phong trào giải phóng dân tộc và tổng khởi nghĩa tháng Tám  ( 1939-1945). Nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời

Nội dung

Biện pháp tiến hành

Giáo dục tư tưởng

Mục II. Phong trào giải phóng dân tộc từ 9/1939 đến 3/ 1945:

1. Hội nghị BCH TW Đảng CS Đông Dương tháng 11/1939.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

3.Nguyễn Ái Quốc về nước trực tiếp lãnh đạo cách mạng. Hội nghị lần thứ 8 BCH TW Đảng CS Đông Dương

( 5/1941)

*GV phân tích nguyên nhân: Tháng 9 năm 1939,chiến tranh thế giới lần thứ hai bùng nổ, Mặt trận Dân chủ Đông dương bị thực dân Pháp thẳng tay đàn áp. Cùng với sự đầu hàng thoả hiệp của thực dân Pháp với phát xít Nhật, vấn đề sống còn của các dân tộc Đông Dương đã đặt ra. Tháng 11/1939 Đảng Cộng sản Đông Dương đã kịp thời chuyển hướng chỉ đạo, chuyển cuộc vận động Mặt trận Dân chủ thành Mặt trận Dân tộc thống nhất chống chiến tranh đế quốc với tên gọi chính thức: Mặt trận Dân tộc thống nhất phản đế Đông Dương nhằm liên hiệp tất cả các dân tộc Đông Dương, các giai tầng, đảng phái, cá nhân có tinh thần phản đế muốn giải phóng dân tộc chống đế quốc, bè lũ tay sai của chúng và vua chúa bản xứ phản bội quyền lợi dân tộc. Các tổ chức phản đế phát triển nhanh chóng dưới hình thức bí mật và công khai.

*Ngày 19/5/1941, theo sáng kiến của Hồ Chí Minh, Việt Nam độc lập đồng minh (Việt Minh) thành lập tại Pắc Pó (Cao Bằng) Mặt trận Việt Minh trong cao trào đánh Pháp, đuổi Nhật đưa tới thành công của Cách mạng Tháng Tám /1945 và việc thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà,

-Từ sáng kiến triệu tập toàn quốc đại biểu đại hội, Đại hội Quốc dân do Tổng bộ Việt minh triệu tập họp ở Tân trào trong 2 ngày 16-17/8/1945 đã thông qua lệnh tổng khởi nghĩa, quyết định quốc kỳ, quốc ca cử ra Uỷ ban giải phóng dân tộc tức là Chính phủ lâm thời do Hồ Chí minh làm Chủ tịch và ngày 2/9/1945 Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ lâm thời đọc tuyên ngôn độc lập, đại biểu tổng bộ Việt minh Nguyễn Lương Bằng đọc lời hiệu triệu đồng bào cả nước.

 

 

 

 

 

 

 

à Sự chuyển hướng chỉ đạo chiến lược của Đảng à thay đổi tên gọi của mặt trận cho phù hợp, chứ thực chất vẫn thực hiệc chính sách đại đoàn kết dân tộc để tập hợp lực lượng chống kẻ thù chung.

 

 

 

 

 

 

- Mặt trận Việt minh thu hút được mọi giới đồng bào yêu nước, từ công nhân, nông dân, trí thức, tiểu tư sản đến tư sản dân tộc, phú nông và một số địa chủ nhỏ có tinh thần yêu nước, đưa tới cao trào đánh Pháp, đuổi Nhật của toàn dân ta trong những năm 1941-1945, Mặt trận Việt minh là một trong những nhân tố cơ bản bảo đảm cho cách mạng thành công.

 

 

Bài 17:Nước Việt Nam dân chủ công hòa từ 2/9/1945 đến trước 19/12/1946:

Nội dung

Biện pháp tiến hành

Giáo dục tư tưởng

Mục II. Xây dựng chính quyền cách mạng, giải quyết nạn đói, nạn dốt và khó khăn về tài chính:

1. Xây dựng chính quyền cách mạng

*GV giới thiệu thêm: Tháng 5 năm 1946, giữa lúc nước Việt nam dân chủ cộng hoà vừa ra đời phải đương đầu với nhiều khó khăn lớn, cũng theo sáng kiến của Người, một Ban vận động thành lập Hội liên hiệp quốc dân Việt nam gồm 27 người với đại biểu Việt minh là Hồ Chí Minh, được thành lập .

*GV hỏi HS ? Vị trí của 2 tổ chức Việt minh và Liên Việtà cùng nhau làm chỗ dựa vững chắc cho chính quyền Cách mạng non trẻ đối phó có hiệu lực với thù trong giặc ngoài

 

 

 

 

 

àNhằm mở rộng hơn nữa khối đoàn kết dân tộc.

 

 

 

 

Bài 19: Bước phát triển của cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp ( 1951- 1953)

Nội dung

Biện pháp tiến hành

Giáo dục tư tưởng

Mục III. Hậu phương kháng chiến phát triển mọi mặt:

*Về chính trị

*GV phân tích: Tháng 3 năm 1951, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đã đi vào giai đoạn quyết liệt, thực hiện khẩu hiệu " Tất cả cho tiền tuyến ", yêu cầu tập hợp các hình thức tổ chức Mặt trận,lúc này Mặt trận Việt Minh và Hội Liên Việt, hai tổ chức Mặt trận được hợp nhất thành Mặt trận Liên Việt.

*Mặt trận Liên Việt đã góp phần động viên công sức của toàn quân, toàn dân lập nên chiến thắng lịch sử Điện Biên phủ, đưa đến việc ký kết hiệp định Giơ-ne-vơ năm 1954 công nhận chủ quyền, độc lập, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của nước Việt nam.

 

 

 

àĐể đoàn kết động viên toàn dân ta tập trung sức người sức của đẩy mạnh kháng chiến trở nên cấp bách. Với các chủ trương đường lối đúng đắn Đảng Lao động Việt Nam và sự ủng hộ tích cực của các Đảng Xã hội, Đảng Dân chủ, các tổ chức chính trị, các nhân sĩ trí thức trong Mặt trận Việt Minh và Hội Liên Việt

Qua các bài học trên, để mở rộng khối đoàn kết dân tộc giáo viên liên hệ giới thiệu:   

Nội dung

Biện pháp tiến hành

Giáo dục tư tưởng

*Liên hệ để giáo dục:

1.Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

2.Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam

 

 

 

 

 

 

 

 

 

3. Liên minh các lực lượng Dân tộc, Dân chủ và Hoà bình Việt nam

 

 

*Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (9/1955).

* Trong cao trào Đồng Khởi của đồng bào miền Nam, Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam(12/1960).

Mặt trận dân tộc giải phóng không ngừng củng cố và mở rộng khối đoàn kết dân tộc, tổ chức và động viên đồng bào và chiến sĩ miền Nam đẩy mạnh đấu tranh trên cả ba mặt trận: quân sự, chính trị và ngoại giao. ảnh hưởng của Mặt trận Dân tộc Giải phóng không ngừng được mở rộng trong các tầng lớp nhân dân miền Nam và uy tín của mặt trận đã được nâng cao trên trường quốc tế

*Trong cao trào tiến công và nổi dậy đầu xuân Mậu Thân (1968) Liên minh các lực lượng Dân tộc, Dân chủ và Hoà bình Việt nam ra đời (20-4-1968).

*Phấn đấu cho một mục tiêu chung là giải phóng miền Nam, bảo vệ và xây dựng miền Bắc thực hiện thống nhất nước nhà, Mặt trận Tổ quốc Việt nam, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam và Liên minh các lực lượng Dân tộc, Dân chủ và Hoà bình Việt nam đã luôn luôn hợp tác chặt chẽ, hỗ trợ nhau tạo nên một sức mạnh không gì lay chuyển nổi của khối đại đoàn kết dân tộc, và đã đưa cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của toàn dân đến thắng lợi hoàn toàn, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, thực hiện thống nhất nước nhà.

*Sau khi cả nước đã được độc lập, sự thống nhất và toàn vẹn của một quốc gia đòi hỏi hợp nhất 3 tổ chức mặt trận. Nhằm đáp ứng yêu cầu của giai đoạn cách mạng mới, Đại hội Mặt trận Dân tộc thống nhất họp từ 31-1 đến 4-2-1977 tại thành phố Hồ Chí Minh đã thống nhất ba tổ chức Mặt trận ở hai miền Nam Bắc nước ta thành một tổ chức Mặt trận Dân tộc thống nhất duy nhất lấy tên là Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

.

 

 

à tiếp tục sự nghiệp đoàn kết toàn dân của Mặt trận Liên Việt.

àNhằm đoàn kết toàn dân đánh bại chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ, đánh đổ chính quyền tay sai của chúng, giải phóng miền Nam, tiến tới thống nhất Tổ quốc. Với đường lối đúng đắn ấy, Mặt trận Dân tộc Giải phóng đã tập hợp các tầng lớp nhân dân, các tổ chức và mọi người Việt nam yêu nước, để cùng nhau chống Mỹ cứu nước.

 

à Kết tụ từ các phong trào đấu tranh yêu nước của các giới sinh viên, học sinh, trí thức, đồng bào tôn giáo, công thương gia, nhân sĩ dân chủ tại các thành thị miền Nam, Liên minh các lực lượng Dân tộc, Dân chủ và Hoà bình Việt nam bằng những công tác trong nước và ngoài nước đã góp sức động viên xúc tiến các phong trào ấy, tăng thêm sức mạnh cho khối đoàn kết toàn dân, chống Mỹ cứu nước.

 

 

 

 

à Mặt trận Tổ quốc Việt Nam với sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, sự thống nhất ý chí của tất cả các tổ chức của các giai tầng trong xã hội, các cá nhân tiêu biểu của các dân tộc, tôn giáo, tầng lớp, các vị lãnh đạo tiêu biểu cho ý chí đoàn kết của dân tộc, luôn phấn đấu xây dựng khối Đại đoàn kết dân tộc vững mạnh, thực hiện mục đích xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh".

Hải Bình (ghi)

 

Những lưu ý khi chấm bài văn nghị luận

Email In PDF.

 GD&TĐ - Cô Phạm Thị Mai Hương - giáo viên THPT Lê Anh Xuân (Bến Tre) - cho rằng: Việc chấm trả bài là dịp tốt nhất để giáo viên nắm được đời sống tâm lý, những bộc lộ thuộc về cá tính, đạo đức của từng học sinh để từ đó có phương pháp, biện pháp giáo dục thích hợp.

Lưu ý phân loại bài làm

Điều đầu tiên, theo cô Phạm Thị Mai Hương, khi chấm bài, ngoài đánh giá chất lượng, chữa lỗi trong bài làm của học sinh theo yêu cầu công tác giảng dạy, giáo viên cần chú trọng đến phát hiện, phân loại bài làm của học sinh để có hướng giáo dục phù hợp.

Việc phân loại có thể chia ra phân loại bài làm về mặt hình thức và phân loại bài làm theo nội dung.

Phân loại bài làm về mặt hình thức như bố cục, kết cấu, chữ viết, cách dùng từ, diễn đạt…, giáo viên cần chú ý xem bài làm của học sinh có đảm bảo yêu cầu nội dung, có thiên hướng tích cực hay không? Bài làm thể hiện rõ cá tính hoặc bộc lộ những tâm sự thầm kín của các nhân học sinh? Bài làm chưa đạt về nội dung hoặc thể hiện những nhận thức sai lầm?

Phân loại bài làm, nhất là theo phương diện nội dung, theo cô Phạm Thị Mai Hương, là việc làm rất hữu ích, vì thực chất đó cũng chính là sự phân loại đối tượng học sinh để tìm ra các đối tượng cần quan tâm giúp đỡ, giáo dục.

Trân trọng những nhận thức đúng đắn

Một vấn đề nữa là khi chấm bài làm văn Nghị luận xã hội, cô Hương cho rằng, giáo viên nên chú ý đánh giá những bài làm thể hiện quan điểm, tư tưởng, tình cảm đúng đắn, chân thật.

Có thể bài làm đó có những điểm chưa đạt về hình thức nhưng rất cần trân trọng những nhận thức đúng đắn và tình cảm chân thật của các em.

Nếu vì lỗi hình thức mà cho điểm kém thì chưa chắc đã là một biện pháp giáo dục hay.

“Mặc dù việc cho điểm bài làm văn của học sinh hiện nay còn nhiều điều đáng bàn, nhưng theo tôi khi chấm điểm ta nên đặt ra những yêu cầu nhất định cả về nội dung và hình thức đối với bài làm của học sinh.

Việc cho điểm không phải là cách để cải thiện chất lượng học văn cũng như đạo đức học sinh.

Nhưng chúng ta phải cho điểm để làm sao lần sau học sinh vẫn mạnh dạn viết ra được những điều các em đã nghĩ, đã nhận thức” - cô Phạm Thị Mai Hương nêu quan điểm.

Một số lưu ý khi trả bài

Giờ trả bài là khâu cuối cùng hoàn chỉnh mục đích của việc ra đề văn. Vì vậy, ở bước thứ nhất, theo cô Hương, giáo viên có thể yêu cầu học sinh thực hiện việc tìm hiểu đề lại. Sau đó, nhấn mạnh vấn đề mà đề bài yêu cầu, chỉ ra những dẫn chứng thực tế trong đó có những biểu hiện mang tính tính cực lẫn tiêu cực có liên quan đến đề.

Sau khi nhận xét chung và chữa một số lỗi về hình thức và nội dung trong bài làm của học sinh, giáo viên có thể đọc một số bài văn tiêu biểu đã được phân loại khi chấm bài và cho các học sinh khác nhận xét.

Đó cũng là một lần giáo dục các em. Riêng đối với những học sinh có nhận thức sai lầm, lệch lạc hoặc có tâm sự riêng thì tùy từng trường hợp cụ thể giáo viên có thể gặp gỡ, trao đổi ngoài giờ.

Hải Bình (ghi)

 

Bí quyết “vực” học sinh yếu Tiếng Anh

Email In PDF.

 

GD&TĐ - Cô Mai Thị Bích Hạnh - Trường THPT Cheguevara (Bến Tre) - chia sẻ bí quyết “vực” những học sinh yếu Tiếng Anh ở cả 4 kỹ năng.

Lấp “hổng” từ vựng

Đa số học sinh không biết cách học từ vựng, không biết từ loại của từ, học mà không nhớ rõ nghĩa, hoặc nhớ nghĩa mà không thuộc từ.

Đối với học sinh nhóm này, yêu cầu các em mỗi ngày học thuộc ba từ vựng mới ( phía sau SGK, theo đơn vị bài học mà giáo viên đã cho biết cách đọc).

Vào 15 phút đầu giờ, giáo viên nhờ cán sự bộ môn và một số học sinh giỏi trong lớp đi kiểm tra những em yếu từ vựng này và báo kết quả lại cho giáo viên.

Đến ngày học phụ đạo lần sau, sẽ kiểm tra tất cả các từ vựng mà đã yêu cầu các em học trong một tuần.

Làm được như thế, đối với một em chịu học từ vựng một cách nghiêm túc thì nhanh chóng lượng từ vựng trong trí nhớ của các em sẽ được nâng lên.

Nâng kỹ năng đọc

Với đối tượng yếu kỹ năng đọc, giáo viên phải có kế hoạch dạy cho các em đó trong tiết kỹ năng đọc.

Có nhiều cách để hoàn thiện kỹ năng này. Trong phần đọc để tìm hiểu bài, giáo viên có thể cho học sinh yếu kém tham gia bình thường, nhưng chỉ hỏi những câu hỏi dễ và gần gũi để các em trả lời được.

Đồng thời, chỉ các em kĩ năng đọc hiểu (đọc câu hỏi, rà vào đoạn lấy thông tin và trả lời).

Lưu ý khi dạy kỹ năng viết

Khi dạy kỹ năng viết giáo viên cần lưu ý đến các em yếu kém. Ví dụ khi giáo viên nêu yêu cầu biến đổi từ cấu trúc: “ Though +mệnh đề ” sang cấu trúc “In spite of +N/V.ing”, đối với học sinh yếu kém, giáo viên cho nhiều câu ví dụ, rồi cho công thức, yêu cầu các em lần lượt lặp lại công thức; sau đó cho các bài tập đơn giản (viết lên bảng hoặc photo ).

Giáo viên yêu cầu học sinh đọc câu của mình làm, những học sinh khác nghe và lặp lại. Đến khi biết chắc là học sinh làm đúng câu đó, giáo viên cho một học sinh lên viết câu đó.

Cứ như thế, có sự giúp đỡ của giáo viên, học sinh sẽ quen và kỹ năng viết của các em được cải thiện dần.

Biện pháp với học sinh yếu ngữ pháp

Trong một tiết học phải cho tất cả học sinh hoạt động, bằng nhiều cách lôi cuốn các em vào các hoạt động học tập, tránh tình để học sinh yếu, kém ngoài lề.

Ví dụ, tiết học “Language Focus”, phần bài tập nên phân ra cho từng đối tượng học sinh. Bài luyện tập khó thì yêu cầu những học sinh khá giỏi, bài tập vừa thì yêu cầu những em trung bình, bài tập dễ thì yêu cầu học sinh yếu kém.

Giáo viên cũng chú ý không tiếc lời khen ngợi học sinh, nhất là những học sinh yếu kém. Sự khích lệ khéo léo, kịp thời đối với những tiến bộ của các em dù là nhỏ cũng đóng một vai trò hết sức quan trọng trong việc phụ đạo học sinh yếu (chiếm khoảng 20% cho sự thành công), từ đó tạo cho các em sự tự tin vào bản thân và hứng thú trong học tập.

Những lưu ý khi lấp hổng kiến thức

Bù lấp kiến thức cơ bản cho học sinh yếu kém là rất cần thiết để các em này kịp thời hòa nhập với lớp.

Hệ thống kiến thức phải đi từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp dựa trên chuẩn kiến thức, nói cách khác, cần giúp học sinh nắm được kiến thức cơ bản, trọng tâm của từng bài.

Mỗi bài học cần xây dựng một số câu hỏi then chốt nhằm khai thác những kiến thức trọng tâm của bài.

Giáo viên nên tăng cường sử dụng đồ dùng dạy học, ứng dụng CNTT, như sử dụng máy chiếu để đưa ra các dạng bài luyện tập, cách này cũng tiết kiệm tiền photo tài liệu cho học sinh…

Giáo viên cho học sinh làm thêm bài tập ngữ pháp để nắm vững cấu trúc câu; luyện học sinh các kỹ năng thông qua nhiều dạng bài tập, thường xuyên kiểm tra từ vựng.

Đồng thời, dạy học sinh cách học, trong đó có phương pháp tự học là yêu cầu bắt buộc luôn phải đặt ra trong mỗi giờ lên lớp. Dạy cách học từng phần, từng nội dung, từng bài; biết cách ghi nhớ, ghi nhớ có chọn lọc, nhớ để hiểu và hiểu giúp ghi nhớ dễ hơn, sâu hơn lâu hơn.

Học sinh phải biết cách xây dựng câu hỏi để tự trả lời và nhờ người khác trả lời, luôn đặt ra câu hỏi “tại sao?” để tự trả lời, trước một vấn đề mới, vấn đề nghiên cứu, trước một lời giải hay cách giải quyết của bản thân và người khác.

Giáo viên cũng lưu ý giúp học sinh nâng cao năng lực khái quát hóa, tổng hợp trong học và tự học, biết sử dụng phương pháp xây dựng “Cây kiến thức” để củng cố, hoàn thiện kiến thức kĩ năng.

Đồng thời, cho học sinh làm việc nhiều hơn, tăng cường bài tập vận dụng kiến thức, bài tập rèn luyện kiến thức, bài tập rèn luyện kĩ năng thích hợp cho các đối tượng.

Hải Bình (ghi)

 

Bí quyết dạy kỹ năng sống qua môn Giáo dục công dân

Email In PDF.

Bí quyết dạy kỹ năng sống qua môn Giáo dục công dân

GD&TĐ - Cô Võ Thị Bích Hạnh - giáo viên Trường Phan Ngọc Tòng (Bến Tre) - chia sẻ những kinh nghiệm thành công khi thực hiện tích hợp giáo dục kỹ năng sống vào giảng dạy Giáo dục công dân lớp 12.

Lãm rõ nội dung, kỹ năng cần tích hợp

Cô Võ Thị Bích Hạnh cho rằng, khi giảng dạy theo hướng tích hợp, giáo viên cần tăng cường đầu tư nhiều hơn cho công tác chuẩn bị. Trong đó, công việc đầu tiên là xác định nội dung, địa chỉ tích hợp và các kỹ năng cần tích hợp.

Nội dung chương trình bộ môn Giáo dục công dân 12 theo chương trình giảm tải gồm 9 bài, được phân phối giảng dạy trong 37 tuần (bao gồm các tiết thực hành ngoại khóa, ôn tập, kiểm tra định kỳ).

Tuy nhiên, do đặc thù bộ môn phải tích hợp nhiều nội dung như giáo dục môi trường, giáo dục sức khỏe sinh sản, phòng chống tham nhũng... nên trong quá trình giảng dạy, không phải bất cứ nội dung nào, hay tiết học nào giáo viên cũng dễ dàng thực hiện việc lồng ghép giáo dục kỹ năng sống.

Do đó, để hoạt động tích hợp đạt hiệu quả cao đòi hỏi người giáo viên dạy Giáo dục công dân phải linh hoạt và mềm dẻo trong việc lựa chọn nội dung bài học và kỹ năng sống cần thiết để tích hợp.

Hiện nay, theo Dự án giáo dục kỹ năng sống của UNICEF, kỹ năng sống là những kỹ năng cần có cho hành vi lành mạnh được chia thành nhiều loại như: Kỹ năng giao tiếp, hợp tác, phân tích, phê phán, điều hỉnh quản lí cảm xúc...

Vì thế, bên cạnh những định hướng tích hợp kỹ năng sống trong môn Giáo dục công dân của Bộ GD&ĐT, cô Võ Thị Bích Hạnh lưu ý, tùy vào nội dung bài học, giáo viên có thể chọn lựa thêm một số kỹ năng cần thiết để giáo dục học sinh.

Qua đó, công tác giáo dục kỹ năng sống sẽ phong phú hơn, toàn diện hơn đồng thời học sinh cũng dễ dàng hiểu và tiếp thu trọn vẹn các kỹ năng mà giáo viên cung cấp.

Lựa chọn phương pháp, hình thức dạy học phù hợp

Cô Võ Thị Bích Hạnh cho rằng: Giờ dạy của giáo viên có đạt hiệu quả cao hay không phụ thuộc rất nhiều vào việc lựa chọn phương pháp giảng dạy và hình thức tổ chức dạy học.

Do vậy, trong quá trình chuẩn bị cho công tác giảng dạy, giáo viên phải quam tâm lựa chọn phương pháp dạy phù hợp để phát huy tính chủ động của học sinh đồng thời cũng góp phần hình thành trong các em kỹ năng tự tin và tư duy sáng tạo.

Đối với việc dạy học theo hướng tích hợp kỹ năng sống, tùy vào từng nội dung và kỹ năng được xác định trước, giáo viên sẽ định hướng phương pháp dạy phù hợp, không cứng nhắc, tạo được sự hợp tác qua lại giữa giáo viên với học sinh, giữa học sinh với học sinh: có thể sử dụng phương pháp tích cực cũng có thể lựa chọn kết hợp giữa phương pháp truyền thống và phương pháp tích cực.

Thể hiện hoạt động dạy học tích hợp trong giáo án

Theo cô Võ Thị Bích Hạnh, đây là bước quan trọng không thể thiếu trong công tác chuẩn bị của giáo viên.

Thông qua giáo án, giáo viên sẽ thể hiện một cách cụ thể, rõ ràng và chi tiết định hướng giảng dạy của mình từ mục tiêu giáo dục, phương pháp, hình thức tổ chức dạy học đến hoạt động dạy và học của giáo viên và học sinh.

Nhờ đó, giáo viên có thể làm chủ được quá trình truyền thụ tri thức và hạn chế thiếu sót trong quá trình giảng dạy.

Trong khi thiết kế nội dung dạy học tích hợp kỹ năng sống, giáo viên nên thiết kế cụ thể các hoạt động mà bản thân dự kiến sẽ tổ chức và ước lượng thời gian tổ chức để tránh ảnh hưởng đến việc truyền thụ và lĩnh hội nội dung kiến thức của học sinh.

Hải Bình (ghi)

 

Dùng vé số dạy học

Email In PDF.

(Tuoi Tre Online) - Cả trăm món đồ dùng dạy học được tạo ra từ bàn tay của thầy Nguyễn Hoàng Long (Bến Tre) đã hỗ trợ đắc lực cho nhiều giáo viên dạy hình học không gian.

Thầy Long trong một giờ lên lớp - Ảnh: N.Tài
Thầy Long trong một giờ lên lớp - Ảnh: N.Tài

Ít ai biết rằng để hoàn thành những mô hình dạy học ấy, thầy Nguyễn Hoàng Long (hiệu phó Trường THPT Che Guevara - huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre) phải đi khắp nơi xin những tờ vé số cũ về dự trữ và từng bị đồng nghiệp hiểu lầm là nghiện vé số.

Dạy hình học không gian bằng mô hình dạy học của thầy Long, cả giáo viên và học trò đều rất thích. Học trò mau hiểu bài, thích học hình học không gian hơn. Cô thấy trò hiểu bài, bài giảng sinh động hơn nên cũng rất vui.

Mới đầu cũng nghĩ thầy Long sanh tật chơi vé số. Sau này còn bất ngờ hơn khi nhận những đồ dùng dạy học từ tay thầy. Mà công nhận thầy Long chịu khó thiệt, xin vé số rồi ngồi gấp tỉ mỉ. Chắc phải tâm huyết lắm mới làm được vậy

Cô Phạm Thị Kim Thoa (giáo viên dạy toán Trường THPT Che Guevara)

Không còn những tiết học chay

Trống điểm, thầy Long cặp ngang thắt lưng một chiếc thùng to tướng bước vào lớp học. Từ chiếc thùng cactông, từng khối hình học đa diện đủ màu sắc được thầy Long đem ra, xếp ngay ngắn trên bàn trước ánh mắt thích thú pha lẫn sự tò mò của học trò.

Không để học sinh chờ đợi lâu, thầy Long chuyền từng khối hình học xuống lớp rồi đi sâu vào giảng giải.

“Khối đa diện đều là hình đa diện lồi và phải thỏa hai tính chất: một là các mặt là đa giác đều bằng nhau, hai là mỗi đỉnh của nó là đỉnh chung của cùng một số cạnh” - thầy Long mở đầu phần kiến thức chung.

Biết chắc những khái niệm khô khan sẽ khó đọng lại trong tâm trí học trò, thầy Long liền mang khối đa giác ra chỉ từng cạnh một rồi phân tích.

Lần lượt như thế, từng khối hình học được thầy Long đem ra “mổ xẻ” để học trò hiểu sâu hơn. Chẳng mấy chốc những kiến thức hình học khô khan, khó hiểu đối với nhiều học sinh lớp 12T2 nay lại trở nên dễ tiếp thu hơn hẳn nhờ những khối đa diện đều, khối lục giác, bát giác, khối hình quả trám... thấy được, sờ được chứ không phải nằm vô tri trên sách vở.

Cuối tiết học, cả học sinh và thầy Long đều rời lớp với nụ cười tươi tắn vì không còn những tiết học chay.

Em Nguyễn Ngọc Hân, học sinh lớp 12T2, cho biết lúc trước rất ngại học môn hình học không gian, nhưng nhờ những khối hình học của thầy Long mà giờ đây đã “nghiện” học toán.

“Những tiết hình học không gian có dụng cụ học tập bắt mắt, sinh động nên kiến thức cũng dễ hiểu và tạo cho các bạn thích thú hơn. Thầy vừa đưa ra lý thuyết thì ngay lập tức thầy có hình minh họa liền nên em nhớ bài lâu hơn” - Hân chia sẻ.

Nhờ những tác động tích cực của bộ đồ dùng đặc biệt này mà nhiều thầy cô trong tổ dạy toán “đặt hàng” thầy Long làm cho mỗi người một bộ. Lý do được các giáo viên đưa ra là có lỡ trùng tiết dạy thì còn có bộ khác mà dùng.

Cũng chính vì lẽ đó mà các giáo viên dạy toán gần như khác hẳn những đồng nghiệp khi đến tiết hình học không gian ai cũng nách một thùng “đồ nghề” bự chảng.

Vất vả chinh phục

Trở về phòng giáo viên, thầy Long cất cẩn thận dụng cụ học tập rồi kể: “Những tiết hình học không gian thường khá khô khan và khó hiểu. Đôi lúc dạy xong cả hai tiết mà học trò không nắm được bao nhiêu nên thầy thấy ray rứt lắm.

Sau đó mới lên mạng tìm xem có giải pháp nào không. Một lần tình cờ thấy dạy xếp giấy origami, thầy chợt nảy ý tưởng sao mình không vận dụng xếp thành những khối hình học để dạy cho học trò.

Mới đầu thầy xếp bằng tờ lịch, sau này phát hiện xếp bằng vé số hình rất đều lại dễ xếp được những hình phức tạp nên thầy tìm đến những người bán vé số dạo để xin hoặc đi lượm”.

Thời gian đầu bắt tay vào xếp hình, trong cặp thầy Long lúc nào cũng có một xấp vé số dự trữ. Thấy vậy nhiều đồng nghiệp nghi ngờ, thậm chí xa lánh vì nghĩ thầy Long nghiện vé số.

Sau khi thầy Long giải thích và kể rõ ngọn nguồn những tờ vé số mà thầy có được là đi xin hoặc lượm ở ngoài đường, nhiều người ngã ngửa.

“Nhiều người cũng hỏi đã là thầy mà còn đi xin rồi đi lượm từng tờ vé số không mắc cỡ sao, nhưng thầy nghĩ có gì to tát đâu. Thật ra mới đầu nhiều cô chú bán vé số cũng rất ngạc nhiên, nhưng sau khi biết mục đích của mình thì các cô chú lại chủ động tìm mình để cho” - thầy Long nhớ lại, tươi cười.

Vượt qua cửa ải của đồng nghiệp nhưng về đến nhà thầy Long lại vấp phải sự phản ứng của gia đình. Công việc gấp hình đòi hỏi sự tỉ mỉ lại tốn nhiều thời gian, hơn nữa lại bày biện khắp nhà nên thầy Long thường bị vợ càm ràm.

Thế rồi những khối đa diện 20 mặt, khối sao cụt 12 mặt đều, khối tứ diện... hoàn thành nhìn rất bắt mắt, không những chinh phục được các cô cậu học trò mà còn làm cho nhiều người hiểu thầy hơn.

NGỌC TÀI - THÀNH NHƠN
 
Trang 2 của 14

Danh mục

Đăng nhập