Sở Giáo dục và Đào Tạo Bến Tre

Học tập

2 giáo viên của tỉnh tham dự lễ tuyên dương nhà giáo tiêu biểu toàn quốc

Email In PDF.

Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) La Thị Thúy thông tin: Tối ngày 14-11-2021, tại Đài Truyền hình Việt Nam, 2 giáo viên tiêu biểu của Bến Tre cùng với 189 nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục tiêu biểu thuộc 63 tỉnh, thành trong cả nước tham dự chương trình truyền hình trực tiếp “Thay lời tri ân” năm 2021.

Cô Lê Thị Xuân Diễm (thứ 5 hàng đầu tiên từ trái qua) chụp ảnh lưu niệm trong buổi gặp gỡ Thủ tướng Chính phủ. Ảnh: CTV.

Đây là một trong các hoạt động nhằm hướng tới kỷ niệm 39 năm Ngày Nhà giáo Việt Nam (20-11-1982 - 20-11-2021) do Bộ GD&ĐT, Công đoàn Giáo dục Việt Nam phối hợp với Đài Truyền hình Việ̣t Nam tổ chức.

2 nhà giáo của tỉnh gồm: Cô Lê Thị Xuân Diễm - giáo viên Trường Trung học phổ thông Lê Quí Đôn (Bình Đại) và cô Trần Thị Phương - giáo viên Trường trung học cơ sở Thạnh Phú Đông (Giồng Trôm). Đây là 2 nhà giáo đã được tặng danh hiệu Nhà giáo ưu tú và có nhiều thành tích trong công tác bồi dưỡng học sinh giỏi; nhận nhiều danh hiệu thi đua được các cấp tuyên dương khen thưởng nhiều năm liền.

Được biết, trong khuôn khổ chương trình tri ân, sáng cùng ngày, tại trụ sở Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính có buổi gặp gỡ với 50/191 nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục. Trong đó, có cô Lê Thị Xuân Diễm - giáo viên Trường Trung học phổ thông Lê Quí Đôn. Năm nay, Bến Tre tiếp tục được chọn làm đại diện phát biểu tại buổi gặp gỡ Thủ tướng Chính Phủ.

Phan Hân

 

Công nhận di tích lịch sử văn hoá cấp tỉnh Đền thờ Ân sư tiền vãng

Email In PDF.

Ngày 6/11, UBND Thành phố Bến Tre tổ chức lễ đón nhận bằng công nhận di tích lịch sử văn hoá cấp tỉnh Đền thờ Ân sư tiền vãng. Bà Hồ Thị Hoàng Yến – Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy – Chủ tịch HĐND tỉnh, bà Nguyễn Thị Bé Mười – Phó Chủ tịch UBND tỉnh Bến Tre đến dự.

Đền thờ Ân sư tiền vãng còn gọi là Miếu Tiên sư, nơi lưu danh những nhà giáo ưu tú, là công trình biểu trưng cho tinh thần tôn sư trọng đạo, toạ lạc tại phường An Hội, thành phố Bến Tre.

Đền thờ Ân sư tiền vãng. Ảnh: Nguyễn Sự
Năm 1957, ông Nguyễn Văn Trinh – Hiệu trưởng đầu tiên của Trường Trung học công lập Kiến Hoà – ngôi trường đầu tiên của tỉnh đã vận động quyên góp tiền xây dựng đền thờ Ân sư tiền vãng để tri ân quý thầy cô giáo đã có công trong sự nghiệp giáo dục tỉnh nhà lúc bấy giờ.

Công trình xây dựng năm 1969, kiến trúc theo kiểu dáng đền thờ xưa với dáng vẻ tôn nghiêm. Đến năm 1999, đền được UBND tỉnh cho nâng cấp, lát gạch nền và hàng năm đều được tu sửa, sơn phết lại vào các dịp lễ, Tết. Hiện gian thờ chính của đền rộng 75m2, bố trí trung tâm là một bài vị gỗ lớn ghi danh sách 350 vị ân sư đã có tâm huyết với ngành giáo dục tỉnh nhà. Bên trái gian thờ là danh sách cán bộ, giáo viên ngành giáo dục đã từ trần và di ảnh thầy Nguyễn Văn Trinh, là người lập Đền Ân sư tiền vãng. Bên phải gian thờ bảng danh sách liệt sĩ ngành giáo dục và đào tạo trong thời kỳ kháng chiến chống đế quốc Mỹ.Đền thờ Ân sư tiền vãng, một công trình mang tính giáo dục, có ý nghĩa, là nơi dạy bài học làm người cũng là cách khơi dậy truyền thống hiếu học, tinh thần tôn sư trọng đạo và là niềm tự hào của người dân Bến Tre nói chung, nhân dân Thành phố Bến Tre nói riêng.

Đền thờ Ân sư tiền vãng được công nhận là di tích lịch sử – văn hóa cấp tỉnh thể hiện sự quan tâm đặc biệt và đánh giá cao của Đảng bộ, chính quyền tỉnh đối với những giá trị về lịch sử, nghệ thuật kiến trúc và ý nghĩa mà di tích mang lại.

Dịp nầy, bà Hồ Thị Hoàng Yến, Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy, cùng quý đại biểu dự lễ đã thắp hương tri ân các bậc ân sư tiền vãng, bày tỏ sự biết ơn đến các thầy cô giáo đã qua đời trong thời kháng chiến, đã có đóng góp cho sự nghiệp giáo dục của địa phương. Sự kiện này cũng ghi nhận nỗ lực, cố gắng, những đóng góp tích cực của Đảng bộ, chính quyền và nhân dân Bến Tre nói chung và thành phố Bến Tre nói riêng, đặc biệt là ngành giáo dục và đào tạo trong việc gìn giữ, chăm sóc đền thờ và phát huy các giá trị lịch sử, truyền thống.

Anh Đào

 

Khóa Sư phạm sơ trung cấp đầu tiên và duy nhất của tỉnh

Email In PDF.

BDK - Trong mỗi giai đoạn phát triển, giáo dục và đào tạo (GD&ĐT) có nhiệm vụ gắn với một sứ mệnh lịch sử nhưng không ngoài mục tiêu đào tạo thế hệ trẻ có đủ năng lực phục vụ tốt cho xã hội, đảm đương trách nhiệm xây dựng quê hương đất nước. Sự ra đời và trưởng thành của lớp giáo sinh Khóa Sư phạm sơ trung cấp (1965 - 1966) là mảnh ghép lịch sử không thể thiếu của ngành giáo dục cách mạng tỉnh.

Những người tham gia Khóa Sư phạm sơ trung cấp chụp ảnh lưu niệm trong một lần họp mặt. Ảnh: CTV

Khóa học đặc biệt

Trong ký ức của ông Ngô Hải Phong - nguyên Phó trưởng ty Giáo dục tỉnh, giáo viên Khóa Sư phạm sơ trung cấp (1965 - 1966), đầu năm 1965, Bến Tre cũng như cả nước chiến tranh vô cùng ác liệt. Hồi ấy, GD&ĐT coi là nhiệm vụ chính trị bức thiết. Để phát triển ngành giáo dục lớn mạnh hơn, Tiểu ban Giáo dục tỉnh (tổ chức, chức năng, nhiệm vụ như Sở GD&ĐT ngày nay - PV) có chủ trương thành lập Trường Sư phạm sơ trung cấp chính quy của tỉnh, nhằm đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng cho việc mở rộng trường lớp cách mạng ở khắp các vùng giải phóng.

Cuối tháng 6-1965, Tiểu ban Giáo dục tỉnh chiêu sinh và đã khai giảng Khóa Sư phạm sơ trung cấp tại ấp An Trạch Tây, xã Thành Thới, huyện Mỏ Cày (nay là Mỏ Cày Nam). Khóa học có 41 giáo sinh được tập hợp từ nhiều nguồn như: học sinh phổ thông trong vùng giải phóng, một số giáo viên đang dạy tiểu học của huyện Mỏ Cày, Giồng Trôm và con em của gia đình cách mạng bỏ học trong vùng dịch kiềm kẹp.

Lớp học được tổ chức rất chặt chẽ. Có một Chi bộ Đảng Lao động Việt Nam, một Chi đoàn Thanh niên Lao động Việt Nam. Có lớp trưởng, lớp phó, 3 tổ giáo sinh do 3 giáo viên phụ trách. Lớp có cán sự bộ môn, ban văn - thể - mỹ, lao động. Đặc biệt thành lập tổ vũ trang, trang bị súng, đạn. Học sinh từ 17 tuổi vào lớp này được học đủ các môn học phổ thông và cả nghiệp vụ sư phạm.

Bà Trần Thị Ngọc Diệu - nguyên Trưởng ban Tuyên giáo Huyện ủy Châu Thành, giáo sinh Khóa Sư phạm sơ trung cấp kể: Hồi đó, trước khi khai giảng năm học, giáo viên cùng với giáo sinh xin lá dừa, cây của dân xây cất trường lớp, đào hầm tránh bom đạn. Trường như đơn vị tác chiến độc lập, địch đánh phá ban ngày, trường học ban đêm. Với phương châm nơi nào có vùng giải phóng, nơi đó có trường lớp cách mạng, địch càn quét nơi này, trường dời địa điểm qua địa phương khác. “Ngày đó, ai đi học không có tiền thì quần chúng nhân dân nuôi. Giáo sinh đi học về cùng người dân lao động, đi đánh lá mía, vác mía, đi cấy… gây quỹ cho lớp. Cực khổ, vất vả mà ai nấy háo hức, học hành chăm chỉ, hăng say lao động, rất nhiệt huyết không ai muốn rút lui”, bà Trần Thị Ngọc Diệu phấn khởi kể.

Trong vòng 12 tháng, trụ sở trường phải di dời 4 điểm chính, 3 điểm phụ. Điểm cuối cùng trường về xã Lương Phú (Giồng Trôm) nhưng bị bỏ bom dữ dội. Lúc này, các giáo sinh chia làm 3 đoàn đi thực tập tại: Long Mỹ, Phước Long, Tân Hào (Giồng Trôm). Khi thực tập xong trở về trường tiếp tục học để thi tốt nghiệp. Kết quả, 100% giáo sinh thi đậu và hoàn thành nội dung chương trình khóa học một cách xuất sắc.

Vẹn nguyên ký ức hào hùng

Với sự quan tâm lãnh đạo của Tỉnh ủy, sự quyết tâm chỉ đạo sát sao của Tiểu ban Giáo dục, cùng với sự yêu thương đùm bọc, che chở của người dân, của cấp ủy, chính quyền nơi trường đóng quân lúc bấy giờ đã sản sinh ra những con người kiên cường đánh Mỹ cứu nước, với nhiều nhiệm vụ khác nhau mà Đảng cần, tổ chức phân công. Theo ông Ngô Hải Phong, những giáo sinh hồi ấy trở thành những cán bộ, lãnh đạo trong và ngoài ngành giáo dục. Một số trong số đó đã trở thành cán bộ, lãnh đạo, là sĩ quan trung cao cấp trong quân đội và công an, là đại biểu Quốc hội chuyên trách, cán bộ Ban Tuyên giáo, đại biểu HĐND các cấp…

Bà Nguyễn Thị Huỳnh Anh - nguyên Trưởng phòng GD&ĐT huyện Châu Thành, giáo sinh Khóa Sư phạm sơ trung cấp cho hay: Tuy khóa sư phạm đầu tiên nhưng nội dung chương trình đào tạo rất toàn diện, phong phú. Có thời gian dài học đủ các môn: Văn, Sử, Địa, Toán, Lý, Hóa, Sinh, Giáo dục, phương pháp dạy học, tâm lý giáo dục, dạy thực hành. Đặc biệt, người học được trải nghiệm rất nhiều thực tiễn trong chiến tranh. Khi có giặc càn quét, số nữ sinh “hợp pháp” trà trộn trong dân được người dân che chở, số nam nữ “bất hợp pháp” trốn vào hầm bí mật hoặc đi theo các lực lượng khác chạy càn. Số có vũ trang kết hợp với du kích “chống càn” bắn trả để tự vệ, hoặc bắn máy bay khi nó thả bom xuống trường.

Tháng 6-1966, giáo sinh hăng hái, phấn khởi nhận quyết định phân công công tác của Tiểu ban Giáo dục tỉnh về làm giáo viên ở các trường phổ thông cấp I, cấp II trong toàn tỉnh. Ngày ra trường, có đoàn giáo viên mới đi nhận nhiệm vụ dạy học ở huyện Ba Tri, Bình Đại, Châu Thành phải qua tỉnh lộ Lương Hòa - Phong Nẫm, Phong Mỹ, cả đoàn vướng trái nổ của giặc gài làm bị thương 4 người. Khó khăn, nguy hiểm nhưng các giáo sinh vẫn không hề nao núng, kiên quyết hoàn thành nhiệm vụ được giao.

Nguyên Ủy viên Ủy ban Văn hóa, Giáo dục của Quốc hội khóa VII và khóa VIII, giáo sinh của Khóa Sư phạm sơ trung cấp Hồ Thị Hồng Nhung cho biết: “Ra đời trong bão lửa chiến tranh, khóa học này rất đặc biệt, là lớp đầu tiên cũng là cuối cùng của tỉnh. Ra trường dạy được vài năm, lúc bấy giờ, giặc tấn công dữ dội, ngành giáo dục tản ra nhỏ lẻ, làm từng phong trào nhỏ và làm công tác trí vận để chuẩn bị cho cuộc tổng tấn công Mậu Thân năm 1968. Các giáo sinh lúc bấy giờ không còn trực tiếp huy động lớp dạy mà phải xung vào trận chiến ác liệt hơn”.

Bà Hồ Thị Hồng Nhung cho biết, kể từ ngày giáo sinh khóa học chia tay nhau đến nay, chưa có tư liệu nào ghi chép lại khóa học này. Trong giai đoạn ấy, khóa học đã góp phần tích cực phát triển giáo dục của tỉnh, lá cờ đầu trong phong trào giáo dục cách mạng Trung Nam Bộ. Sau Khóa Sư phạm sơ trung cấp của tỉnh, tại Bến Tre có nhiều lớp sư phạm ra đời do Khu Trung Nam Bộ mở tại tỉnh, giáo sinh của cả khu vực.

Trong hồi ức của các cựu giáo sinh thời ấy, chặng đường xây dựng và trưởng thành của Khóa Sư phạm sơ trung cấp với những câu chuyện tưởng là huyền thoại nhưng đây là ký ức không thể xóa nhòa. Những dấu ấn tốt đẹp, một thời oanh liệt của giáo sinh góp phần làm rạng rỡ thêm lịch sử xây dựng và phát triển nền giáo dục cách mạng của tỉnh. Điều này rất đáng ghi nhận, lưu truyền, góp phần hun đúc những thế hệ giáo sinh đầy bản lĩnh, tâm huyết, trách nhiệm, khát vọng phát triển ngành GD&ĐT quê hương xứ Dừa.

“Với thành tích của thầy trò Trường Sư phạm sơ trung cấp, Đảng, Nhà nước khen và tặng thưởng nhiều huân chương, huy chương quý báu. Tổ quốc ghi công 9 thầy trò là liệt sĩ chống Mỹ cứu nước gồm: 2 giáo viên và 7 giáo sinh”.

(Ông Ngô Hải Phong - nguyên Phó trưởng ty Giáo dục tỉnh Bến Tre, giáo viên Khóa Sư phạm 1965 - 1966 tỉnh Bến Tre)

 

Đẩy mạnh công tác truyền thông, nâng cao nhận thức, kỹ năng số, tăng cường tương tác trên môi trường mạng với phụ huynh, học sinh và nhà trường

Email In PDF.

- Chuyển đổi số là cơ hội vô giá cho Việt Nam, cũng là cơ hội cuối cùng trong một vài thập kỷ tới do những đột phá về công nghệ mới được phổ biến trong các năm gần đây và nhiều chục năm mới có một lần. Nếu bỏ lỡ cơ hội này, chúng ta sẽ bị tụt lại sau xa hơn nữa so với các quốc gia khác và người đi trước thắng cuộc sẽ được tất cả.

- Nhận thức đóng vai trò quyết định trong chuyển đổi số trước tiên là chuyển đổi nhận thức. Một cơ quan, tổ chức có thể tiến hành chuyển đổi số ngay thông qua việc sử dụng nguồn lực, hệ thống kỹ thuật sẵn có để số hóa toàn bộ tài sản thông tin của mình, tái cấu trúc quy trình nghiệp vụ, cơ cấu tổ chức và chuyển đổi các mối quan hệ từ môi trường truyền thống sang môi trường số.

- Người dân là trung tâm của chuyển đổi số. Thiết bị di động thông minh là phương tiện chính của người dân trong thế giới số.

- Chuyển đổi số là quá trình thay đổi tổng thể và toàn diện của cá nhân, tổ chức về cách sống, cách làm việc dựa trên các công nghệ số. Sự khác biệt giữa ứng dụng CNTT và chuyển đổi số: ứng dụng CNTT là tối ưu hóa quy trình đã có, theo mô hình hoạt động đã có, để cung cấp dịch vụ đã có; còn chuyển đổi số là thay đổi quy trình mới, thay đổi mô hình hoạt động mới, để cung cấp dịch vụ mới hoặc cung cấp dịch vụ đã có theo cách mới.

- Chuyển đổi số nhằm mục tiêu vừa phát triển xã hội số, vừa hình thành các trường học công nghệ số Việt Nam có năng lực đi ra khu vực, toàn cầu. Chuyển đổi số giúp người dân bình đẳng về cơ hội tiếp cận dịch vụ giáo dục, đào tạo. Chuyển đổi số nhờ dữ liệu số và công nghệ để thấu hiểu người dân hơn, vì vậy, cung cấp dịch vụ số tốt hơn, hoạt động quản lý hiệu lực, hiệu quả và minh bạch hơn. Chuyển đổi số cho phép mỗi người dân có thể tiếp cận nhiều hơn các dữ liệu giáo dục.

- Chuyển đổi số bắt đầu từ các công việc hàng ngày, chuyển đổi quy trình hàng ngày thành quy trình điện tử, hoàn thành chuyển đổi các sổ điện tử; dữ liệu các sổ điện tử từng bước được tích hợp dữ liệu dùng chung (bảo đảm dữ liệu chuẩn hóa, chính xác, tốt hơn, đầy đủ hơn; từng thành viên trong hệ thống kiểm tra, cập nhật dữ liệu sẽ tốt hơn chỉ 01 người thực hiện); khắc phục dữ liệu nhiều nhưng không chính xác, chậm cập nhật mới, nhiều lỗi thông tin trong dữ liệu; đảm bảo dữ liệu được lưu trữ an toàn, chia sẻ và khai thác phục vụ các hoạt động ứng dụng CNTT trong nhà trường; ứng dụng công nghệ để có giải pháp tích hợp giúp giáo viên, phụ huynh, học sinh chỉ truy cập một trang ứng dụng, dịch vụ duy nhất, đăng nhập 1 lần là có thể sử dụng các ứng dụng, dịch vụ về giáo dục.

- Xây dựng ban hành các quy trình, quy định khi chuyển đổi cách thực hiện từ thủ công sang thực hiện trực tuyến nhằm bảo đảm tính pháp lý khi thực hiện chuyển đổi số;

- Xây dựng các tiêu chí và tổ chức thẩm định các phần mềm về tính phù hợp với yêu cầu sử dụng, quy trình hiện hành và mục tiêu chuyển đổi số của đơn vị, của ngành; chú trọng tính hiện đại: cập nhật công nghệ mới vào phần mềm; đảm bảo việc sử dụng phần mềm phải mang lại hiệu quả thật sự khi triển khai.

Trích: Hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ công nghệ thông tin và chuyển đổi số năm học 2021 - 2022

 

Tự hào đất học Ba Tri

Email In PDF.

(Báo Đồng khởi Online)-Bến Tre là một tỉnh nằm ở hạ lưu sông Tiền, được hợp thành từ 3 dải cù lao: Bảo, Minh, An Hóa; bốn bề sông nước, cách trở nhưng con người nơi đây có khí phách hiên ngang, tinh thần hiếu học, nghị lực mạnh mẽ. Trong các huyện, thành phố thì Ba Tri được mệnh danh là đất học.

“Hoa của đất”

Vùng đất lành này không chỉ sản sinh mà còn là mảnh đất được nhiều danh nhân lựa chọn làm nơi an nghỉ cuối cùng như: Gia Định Xử sĩ Sùng Đức Võ tiên sinh Võ Trường Toản - người được giới nghiên cứu gọi là ông tổ của ngành giáo dục Nam Kỳ; nhà thơ yêu nước Nguyễn Đình Chiểu. Mặt khác, miền quê biển nước mặn quanh năm này xưa kia còn là quê hương của Khai khoa Tiến sĩ Nam Kỳ, Đại học sĩ Phan Thanh Giản. Mặc dù có nhiều nhận định khác nhau về nhân vật lịch sử này nhưng người dân Ba Tri rất kính trọng ông bởi những đức tính tốt đẹp: hiếu thảo, hiếu học, nghị lực vượt qua khó khăn; chỉ với 30 chén gạo và 30 con mắm mà kế mẫu gửi cho hàng tháng đã nuôi dưỡng nên một bậc hiền tài. Khi làm quan, ông là vị quan thanh liêm, trong sạch, hết lòng vì công việc; được vua Tự Đức ban cho tấm kim khánh có 4 chữ “Liêm bình cẩn cán”.

Tiếp nối truyền thống tốt đẹp của quê hương, trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, huyện Ba Tri có nhiều người con ưu tú, nổi bật là bác sĩ, Nhà giáo nhân dân Trần Hữu Nghiệp. Ông dám từ bỏ cuộc sống giàu sang để thoát ly tham gia cách mạng và đào tạo nhiều thế hệ thầy thuốc giỏi cho ngành y tế cả nước nói chung và Nam Bộ nói riêng. Trong giai đoạn xây dựng và phát triển tỉnh nhà, những người con quê hương Ba Tri tiếp tục học tập, cống hiến sức mình, có nhiều người thành đạt, giữ các trọng trách quan trọng. Điển hình như TS. Cao Tấn Khổng - Phó tổng Kiểm toán Nhà nước, TS. Thái Thị Thu Hương - Trưởng Ban Thi đua Khen thưởng Trường Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh (cháu đời thứ 7 của ông già Ba Tri Thái Hữu Kiểm), TS. Nguyễn Văn Huấn - Phó giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Bến Tre…

Toàn huyện có trên 9.000 gia đình hiếu học, 20 dòng họ hiếu học (họ Lữ - xã An Hiệp, họ Cao - xã Mỹ Thạnh, họ Đoàn - xã Tân Hưng…), trên 250 người có trình độ sau đại học. Đặc biệt, là ngôi làng tiến sĩ ở xã Vĩnh Hòa, quê hương của nhiều vị tiến sĩ, có thể kể đến: TS. Nguyễn Tấn Mẫn - nguyên Thứ trưởng Bộ Giao thông vận tải, TS. Nguyễn Ngọc Cẩn - nguyên Hiệu trưởng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Thủ Đức (nay là Sư phạm Kỹ thuật TP. Hồ Chí Minh)...

Phát huy truyền thống

Tháng 4-2017, trong không khí kỷ niệm 42 năm Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, UBND huyện Ba Tri tổ chức buổi họp mặt hơn 250 người con ưu tú có trình độ sau đại học đang công tác trong và ngoài huyện. Đây là địa phương duy nhất trong tỉnh có tổ chức gặp gỡ, gắn kết đội ngũ trí thức với quê hương. Buổi họp mặt diễn ra trong không khí đầm ấm, cởi mở, có sự trao đổi thẳng thắn giữa đội ngũ trí thức với lãnh đạo huyện.

TS. Cao Tấn Khổng đã có những chia sẻ tâm huyết, là người trí thức không thể quên ơn nguồn cội, không nên kiêu căng tự mãn với học vị đã có mà phải biết khiêm nhường, học hỏi nâng cao trình độ. Mỗi người tự điều chỉnh và thực hiện được “5 chữ T” gồm: trí, tâm, tầm, tin, tín. Trí là trí tuệ, khả năng nhận thức, suy nghĩ và phán đoán vấn đề. Tâm là lòng tốt, lòng nhân ái đối với mọi người. Tầm là năng lực và trình độ vượt trội so với người khác. Tin là lòng tin, đặt hy vọng vào người khác. Tín là uy tín, biết trọng lời hứa trong các mối quan hệ.

Cũng trong buổi họp mặt, Th.S Lữ Văn Châu - Tổng biên tập Tạp chí Cao Đài đã có những lời phát biểu chân tình, động viên đội ngũ trí thức trẻ hãy phát huy tinh thần cương trực, tiết nghĩa, noi theo gương sáng của cụ Đồ Chiểu trong công tác và học tập. Họp mặt những người con Ba Tri có trình độ sau đại học là dịp để phát huy truyền thống hiếu học, xây dựng xã hội học tập.

Trong những năm qua, huyện đã làm tốt công tác khuyến học, khuyến tài thông qua các hình thức tặng học bổng, học phẩm. Điều này góp phần cụ thể hóa Nghị quyết số 33-NQ/TW về “Xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước” và Kế hoạch số 4191/2016 của UBND tỉnh về “Xây dựng con người Bến Tre phát triển toàn diện trong giai đoạn mới”. Đặc biệt, sau buổi họp mặt, Ban liên lạc Hội đồng hương Ba Tri tại TP. Hồ Chí Minh và Hội Khuyến học huyện đã tổ chức đêm văn nghệ gây quỹ khuyến học với chủ đề “Thắp sáng ước mơ tuổi trẻ Ba Tri”; các tổ chức, cá nhân đã ủng hộ số tiền trên 1,1 tỷ đồng. Từ nguồn quỹ khuyến học này, nhiều em học sinh, sinh viên có hoàn cảnh khó khăn sẽ có thêm điều kiện đến trường thực hiện ước mơ về sự học, kế tục và phát huy tốt đẹp truyền thống hiếu học của quê hương.

Hữu Nghĩa

 
Trang 1 của 14

Danh mục

Đăng nhập