Sở Giáo dục và Đào Tạo Bến Tre

Góc tham luận - Trao đổi

8 tiêu chuẩn cần có đối với lãnh đạo trường phổ thông

Email In PDF.

Hiệu trường phải có khả năng tổ chức, thực hiện hiệu quả phương pháp dạy học và giáo dục tích cực tạo ra sự phát triển toàn diện ở học sinh. Ảnh minh họa/Internet.Hiệu trường phải có khả năng tổ chức, thực hiện hiệu quả phương pháp dạy học và giáo dục tích cực tạo ra sự phát triển toàn diện ở học sinh. Ảnh minh họa/Internet.

GD&TĐ - PGS.TS Nguyễn Thị Tính (Trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên) đề xuất Chuẩn lãnh đạo trường phổ thông dựa trên 8 tiêu chuẩn dưới đây:

Tiêu chuẩn 1: Phẩm chất chính trị, đạo đức và đạo đức nghề nghiệp

* Phẩm chất chính trị, đạo đức bao gồm các tiêu chí:

Yêu nước, vì sự phát triển của đất nước và dân tộc; Gương mẫu chấp hành chủ trương, đường lối của Đảng; hiểu biết và thực hiện đúng pháp luật, chế độ, chính sách quy định của Nhà nước, các quy định của ngành, địa phương;

Tích cực tham gia các hoạt động chính trị, xã hội; Có ý chí vượt khó khăn để hoàn thành nhiệm vụ được giao; Có khả năng động viên, khích lệ giáo viên, cán bộ, nhân viên và học sinh hoàn thành tốt nhiệm vụ; được tập thể giáo viên, cán bộ, nhân viên tín nhiệm.

* Về đạo đức nghề nghiệp với các tiêu chí:

Giữ gìn phẩm chất, danh dự, uy tín của nhà giáo; Trung thực, tâm huyết với nghề nghiệp và có trách nhiệm trong quản lý nhà trường; Ngăn ngừa và kiên quyết đấu tranh chống những biểu hiện tiêu cực; Không lợi dụng chức vụ hiệu trưởng vì mục đích vụ lợi, đảm bảo dân chủ trong hoạt động nhà trường.

Có lối sống lành mạnh, phù hợp với bản sắc văn hóa dân tộc trong xu thế hội nhập. Có tác phong làm việc khoa học, sư phạm, chuyên nghiệp và có cách thức giao tiếp, ứng xử đúng mực, có hiệu quả.

Tiêu chuẩn 2: Sứ mạng, tầm nhìn và giá trị cốt lõi

Lãnh đạo các trường phổ thông cần biết xác định sứ mạng của nhà trường; Xác định rõ tầm nhìn của nhà trường, các giá trị cốt lõi mà nhà trường theo đuổi; Biết xây dựng kế hoạch chiến lược phát triển nhà trường phù hợp với sứ mạng, tầm nhìn và giá trị cốt lõi; Biết tổ chức và quản lý nhà trường theo sứ mạng và tầm nhìn, giá trị theo đuổi.

Tiêu chuẩn 3: Chương trình, giảng dạy và đánh giá

Hiệu trưởng phải biết phát triển chương trình giáo dục cấp học và chương trình giáo dục nhà trường, chương trình môn học. Biết xây dựng chiến lược, kế hoạch phát triển chương trình giáo dục nhà trường.

Tổ chức giảng dạy thực hiện chương trình giáo dục nhà trường. Có khả năng tổ chức, thực hiện hiệu quả hình thức tổ chức, phương pháp dạy học và giáo dục tích cực tạo ra sự phát triển toàn diện ở học sinh.

Đánh giá đúng năng lực học sinh theo chuẩn đầu ra của chương trình giáo dục và đánh giá được chương trình giáo dục nhà trường, hoàn thiện chương trình theo hướng đảm bảo chất lượng giáo dục.

Thường xuyên phát triển chương trình giáo dục nhà trường đáp ứng yêu cầu xã hội và phát triển năng lực học sinh.

- Thường xuyên thực hiện tự đánh giá nhà trường và có kế hoạch cải tiến nâng cao chất lượng giáo dục nhà trường. Thực hiện kiểm định trường theo chu kỳ. Ứng dụng được công nghệ thông tin trong quản lý phát triển chương trình giáo dục nhà trường, trong dạy học học, giáo dục học sinh.

Tiêu chuẩn 4: Chăm sóc tâm lý và tư vấn học sinh, đồng nghiệp

Đã lãnh đạo nhà trường thì cần có kỹ năng chăm sóc tâm lý học sinh và đồng nghiệp; Biết hướng dẫn, tư vấn học sinh trong học tập, hướng dẫn tư vấn đồng nghiệp trong giảng dạy và giáo dục học sinh.

Biết hướng dẫn, tư vấn học sinh, đồng nghiệp trong giải quyết các vấn đề thuộc đời sống tình cảm và các vấn đề xã hội. Tổ chức thực hiện được tư vấn hướng nghiệp cho học sinh, tư vấn đồng nghiệp phát triển nghề nghiệp.

Biết tổ chức, chỉ đạo giáo viên chăm sóc tâm lý, tư vấn học sinh hiệu quả. Biết phối hợp các lực lượng giáo dục trong và ngoài trường để chăm sóc tâm lý, tư vấn học sinh trong học tập.

Biết phối hợp các lực lượng giáo dục trong và ngoài trường để chăm sóc tâm lý, tư vấn học sinh trong đời sống tình cảm và các vấn đề xã hội. Biết phối hợp các lực lượng giáo dục trong và ngoài trường để tư vấn hướng nghiệp cho học sinh.

Tiêu chuẩn 5: Năng lực quản lý nhân sự

Quy hoạch tuyển chọn, sử dụng và thực hiện đúng chế độ, chính sách đối với đội ngũ giáo viên, cán bộ và nhân viên; Có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên, cán bộ và nhân viên đáp ứng yêu cầu chuẩn hóa, đảm bảo sự phát triển lâu dài của nhà trường;

Tạo động lực cho giáo viên, cán bộ, nhân viên phát huy sáng kiến xây dựng nhà trường; Thực hành dân chủ cơ sở, xây dựng khối đoàn kết nội bộ nhà trường; Phát triển môi trường làm việc tạo động lực cho giảng viên và nhân viên, học sinh học tập;

Phát triển môi trường văn hóa chất lượng, văn hóa xã hội và môi trường học thuật trong trường phổ thông tạo điều kiện để giáo viên và học sinh sáng tạo; Chăm lo đời sống tinh thần, vật chất của giáo viên, cán bộ và nhân viên;

Thường xuyên quan tâm đến hoạt động phát triển nghề nghiệp cho giáo viên và nhân viên; Sử dụng được phần mềm quản lý nhân sự trong nhà trường.

6. Tiêu chuẩn 6: Cam kết với gia đình phụ huynh và cộng đồng

Hiệu trưởng phải là người xây dựng và duy trì mối quan hệ thường xuyên với gia đình học sinh để đạt hiệu quả trong hoạt động giáo dục nhà trường.

Đồng thời tổ chức phối hợp với các đoàn thể và các lực lượng trong cộng đồng xã hội để quản lý và giáo dục học sinh; Đảm bảo với gia đình và cộng đồng về sự tiến bộ của học sinh;

Bên cạnh đó, cần công khai hóa kết quả giáo dục đạt được ở học sinh trước gia đình, cộng đồng, xã hội; Thường xuyên thu thông tin phản hồi từ học sinh và lực lượng liên đới để nâng cao chất lượng và đảm bảo chất lượng giáo dục; Công khai hóa kết quả kiểm định trường trước cha mẹ học sinh và cộng đồng xã hội;

Ngoài ra, phải biết hợp tác và chia sẻ thông tin về kinh nghiệm lãnh đạo, quản lý với các cơ sở giáo dục, cá nhân và tổ chức khác để hỗ trợ phát triển nhà trường; Tiếp nhận và xử lý các thông tin phản hồi để đổi mới và nâng cao chất lượng giáo dục của nhà trường.

Tiêu chuẩn 7: Tổ chức và quản lý

Lãnh đạo nhà trường phải xây dựng, tổ chức bộ máy nhà trường gọn nhẹ, hoạt động hiệu quả; Tuyển sinh, tiếp nhận học sinh đúng quy định; Quản lý tài chính đúng quy định và hiệu quả.

Quản lý phát triển chương trình giáo dục nhà trường đáp ứng yêu cầu xã hội và phát triển năng lực học sinh. Quản lý học sinh theo hướng đảm bảo chất lượng và chuẩn đầu ra. Quản lý và sử dụng có hiệu quả tài sản, cơ sở vật chất nhà trường.

Mặt khác, phải hoàn thiện hệ thống văn bản quản lý nhà trường và quản lý theo văn bản đã quy định. Quản lý hồ sơ sổ sách theo đúng quy định đảm bảo lưu giữ minh chứng rõ vào khoa học. Xây dựng các quy trình quản lý và tổ chức thực hiện theo quy trình.

Tổ chức có hiệu quả các phong trào thi đua và thu mọi thành viên tích cực thi đua. Ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý nhằm đảm bảo mọi hoạt động của nhà trường đều được kiểm soát.

Tiêu chuẩn 8: Cải tiến nhà trường

Lãnh đạo phải đạt chuẩn và quy chuẩn về trình độ chuyên môn, ngoại ngữ, tin học. Biết khai thác các nguồn thông tin của các nước tiên tiến vào khu vực vận dụng vào đổi mới phát triển nhà trường.

Lãnh đạo và quản lý thành công sự thay đổi của giáo viên nhân viên, học sinh. Đồng thời lãnh đạo và quản lý sự thay đổi nhà trường hiệu quả.

 

Bài viết được biên tập từ tham luận “Đề xuất chuẩn lãnh đạo trường phổ thông” của PGS.TS Nguyễn Thị Tính. Trích trong Kỷ yếu Hội thảo khoa học “Chuẩn hiệu trưởng và phát triển chương trình tài liệu tổ chức bồi dưỡng cán bộ quản lý cơ sở giáo dục phổ thông”.

PGS.TS Nguyễn Thị Tính

 

Chuyên gia giúp giáo viên phân biệt hoạt động dạy học với hoạt động giáo dục

Email In PDF.

Hoạt động giáo dục nhằm giúp học sinh hình thành phẩm chất, nhân cách, giá trị và kỹ năng sống. Ảnh minh họa/internet

Hoạt động giáo dục nhằm giúp học sinh hình thành phẩm chất, nhân cách, giá trị và kỹ năng sống. Ảnh minh họa/internet

GD&TĐ -  Dưới đây là chia sẻ của PGS.TS Nguyễn Thị Kim Thoa, tiến sỹ Ngô Thị Thu Dung và tiến sỹ Trần Văn Tính (Trường Đại học Giáo dục,Đại học Quốc gia Hà Nội).

Các chuyên gia đã có những phân tích, so sánh về các thành tố giữa hoạt động dạy học và hoạt động trải nghiệm sáng tạo (hoạt động giáo dục) để giáo viên cả nước có thể hình dung và hiểu hơn về sự khác nhau giữa hai hoạt động này.

Từ đó có phương pháp tổ chức các hoạt động dạy học và hoạt động giáo dục đạt hiệu quả hơn.

 

Hoạt động dạy học

Hoạt động trải nghiệm sáng tạo

Mục đích

Nhằm chủ yếu hình thành:

Năng lực trí tuệ, kỹ năng trí tuệ

Nhằm chủ yếu hình thành:

Phẩm chất nhân cách, giá trị, kỹ năng sống

Chức năng

nhiệm vụ

Chức năng trội: Chủ yếu nhằm thực hiện nhiệm vụ giáo dục trí tuệ

Có thế mạnh về mặt phát triển trí tuệ, nhận thức: hình thành các biểu tượng, khái niệm, định luật, lý thuyết, các kỹ năng, kỹ xảo…

Chức năng trội: Chủ yếu nhằm thực hiện nhiệm vụ giáo dục đạo đức, thẩm mĩ, sức khỏe, lao động…

Có thế mạnh về mặt xúc cảm, thái độ: hình thành niềm tin, chuẩn mực, lý tưởng, động cơ, nguyên tắc hành vi, lối sống.

Đối tượng

Hệ thống khái niệm

Hệ thống tri thức, kĩ năng, kĩ xảo được quy định chặt chẽ, phù hợp logic nhận thức, tuân theo một chương trình, kế hoạchdạy học nhằm đạt được một mục tiêu giáo dục xác định.

Hệ thống giá trị, chuẩn mực

Hệ thống các chuẩn mực xã hội (các định hướng giá trị về đạo đức, văn hóa, thẩm mĩ…), có tính không chắc chắn, chủ yếu dựa theo nhu cầu xã hội, nguyện vọng và hứng thú của đối tượng.

 

Lĩnh vực

Môn học/khoa học

Chủ đề, chủ điểm, nội dung giáo dục (nghĩa hẹp) đa dạng phong phú

Cơ chế hình thành

Con đường nghiên cứu khoa học, logic cao

Tác động vào cảm xúc, nhiều khi phi logic

Thời gian

Chiếm lĩnh nhanh hơn

Lâu dài hơn, bền bỉ hơn

Hình thức

Lớp/bài

Hệ thống bài lên lớp (theo thời khóa biểu), xemina, thực hành, thí nghiệm…

Nhóm/nội dung GD

Các sinh hoạt tập thể, hoạt động xã hội, tham quan, lao động công ích, các sinh hoạt thường nhật…

Không gian

Phòng học là chủ yếu

Ngoài lớp học thông thường, trong nhà máy, trong cuộc sống xã hội…

Phương thức:

Truyền đạt, phân tích, giảng giải…

Hình thức: chủ yếu cá nhân

Trải nghiệm, biểu diễn, chiêm nghiệm…

Hình thức: chủ yếu hoạt động tập thể

Mục đích trải nghiệm

Chủ yếu để củng cố kiến thức khoa học (tích hợp), lý luận thông qua việc giải quyết nhiệm vụ của thực tiễn

Chủ yếu để tích lũy kinh nghiệm quan hệ, hoạt động, ứng xử, giải quyết vấn đề… để thích ứng với sự đa dạng của cuộc sống luôn vận động

Kiểm tra đánh giá

Chủ yếu đánh giá các kiến thức khoa học học được đã được vận dụng như thế nào vào thực tiễn.

Thường sử dụng đánh giá định lượng

Nhấn mạnh đến kinh nghiệm, thái độ thực hiện, tính trải nghiệm, cảm xúc, giá trị, niềm tin, thói quen…

Thường sử dụng đánh giá định tính.

Quản lý

Người lãnh đạo quá trình dạy học chủ yếu là giáo viên bộ môn

Quản lý theo chương trình môn học, thi cử.

Người lãnh đạo là đại diện của tập thể học sinh, đoàn thể và gia đình, của giáo viên chủ nhiệm/ giáo dục viên…

Quản lý theo chường trình hoạt động của tập thể

"Giáo viên cũng cần hiểu rằng, phương pháp dạy – học trải nghiệm chính là quá trình người dạy cùng người học thực hiện chu trình tổ chức huy động và cấu trúc lại các kinh nghiệm đã có, đã trải nghiệm trước đây của người học để tạo nên tri thức mới, giá trị mới, năng lực mới và tri thức, năng lực mới tiếp tục được kiểm chứng trong quá trình trải nghiệm thực tiễn, quá trình giải quyết nhiệm vụ tiếp theo" - các chuyên gia trao đổi.

Minh Phong (ghi)

 

9 lưu ý trong công tác chủ nhiệm lớp

Email In PDF.

Ảnh minh họa/internet

GD&TĐ - Theo ông Nguyễn Văn Thanh - Trưởng phòng GD&ĐT Sóc Sơn (Hà Nội), giáo viên chủ nhiệm cần có phương pháp và kỹ năng tổ chức thực hiện; theo đó, cần lưu ý 9 đặc điểm sau:

Giáo viên chủ nhiệm là một mắt xích, là cầu nối đa chiều kết hợp các mối quan hệ giữa học sinh, gia đình, nhà trường.

Thứ nhất - điều tra cơ bản tình hình lớp chủ nhiệm:

Cần lưu ý học sinh viết số điện thoại gia đình, của bố, mẹ, địa chỉ và kết quả học tập của năm học trước, đăng ký phấn đấu năm học này, thông qua đó giáo viên chủ nhiệm nắm bắt được cơ bản từng học sinh trong lớp.

Thứ hai - xây dựng cơ cấu tổ chức khoa học: Tức là xây dựng đội ngũ cán bộ lớp liên kết chặt chẽ, có khả năng tổ chức, thuyết phục cao.

Giáo viên cho học sinh bầu cán bộ lớp thông qua bỏ phiếu kín, chọn cho được đội ngũ cán bộ lớp có đầy đủ uy tín, năng lực, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.

Thứ ba - lập kế hoạch chủ nhiệm: Giáo viên chủ nhiệm cần xây dựng kế hoạch chủ nhiệm riêng của cá nhân dựa trên kế hoạch chủ nhiệm của nhà trường. Kế hoạch phải được xây dựng cụ thể từng tuần, từng tháng. Hồ sơ quản lý học sinh phải khoa học, chính xác, rõ ràng.

Thứ tư - xây dựng các tiêu chí thi đua: Cần cụ thể, chính xác, công khai, minh bạch và tổ chức thi đua theo từng tuần, tháng, học kỳ và cả năm học sao cho phù hợp với đặc điểm điều kiện của lớp chủ nhiệm, đồng thời thường xuyên khuyến khích được tinh thần phấn đấu vươn lên của lớp chủ nhiệm.

Có hình thức khen thường, phê bình, kỷ luật, đúng người, đúng việc, đúng mức. Từ đó tạo ra một môi trường học tập thật tốt trong trường, lớp, cũng như khích lệ học sinh tích cực tham gia học tập tại gia đình.

Thứ năm - quan tâm sát sao, nhiệt tình, có trách nhiệm tới từng học sinh:

- Giáo viên chủ nhiệm sắp xếp thời gian hợp lý để có điều kiện gặp gỡ học sinh thường xuyên theo dõi mọi hoạt động của lớp.

- Xây dựng mối liên hệ mối liên hệ chặt chẽ giữa giáo viên chủ nhiệm và học sinh, giữa học sinh với học sinh trên tinh thần hiểu biết, lắng nghe, thông cảm, chia sẻ. Tạo được sự tin cậy đối với học trò để các em dám chia sẻ. Giáo viên chủ nhiệm là trung tâm, hạt nhân trong việc xây dựng quan hệ thầy - trò lành mạnh, trong sáng.

- Quan tâm đến học sinh có hoàn cảnh khó khăn, học sinh cá biệt để có kế hoạch cụ thể giúp đỡ và phương án giáo dục phù hợp.

- Giáo viên nên có nhật ký giáo viên chủ nhiệm ghi chép về ưu, nhược điểm, tính cách, sở trường, hiện tượng vi phạm, sự tiến bộ, của từng học sinh. Đây chính là nguồn từ liệu đánh giá khoa học về học sinh một cách tổ chức có hệ thống và cũng là nguồn tư liệu về tâm lý học.

Thứ sáu - tổ chức các nội dung giáo dục toàn diện cho học sinh:

Thành lập nhóm học tập, câu lạc bộ, tạo bầu không khí thi đua học tập tốt. Tăng cường ý thức học tập, rèn luyện đạo đức của học sinh thông qua tiết sinh hoạt chủ nhiệm, hoạt động ngoài giờ lên lớp, hoạt động ngoại khóa.

Thứ bảy: Nắm vững kế hoạch giảng dạy, giáo dục đạo đức học sinh, quy chế đánh giá xếp loại hạnh kiểm, học lực của học sinh, các hoạt động hướng nghiệp - ngoài giờ lên lớp.

Nhận định, đánh giá chính xác, khách quan quá trình rèn luyện phấn đấu tu dưỡng của từng học sinh trong lớp, xếp loại hạnh kiểm học sinh theo tinh thần dân chủ, công khai, đúng quy trình.

Thứ 8 - phối kết hợp với phụ huynh học sinh: Thường xuyên trao đổi thông tin kịp thời đến với phụ huynh học sinh để phối kết hợp cùng giáo dục. Cần trao đổi qua lại giữa giáo viên với phụ huynh theo định kỳ ít nhất một lần/tháng.

Hàng tuần mời trưởng ban đại diện cha mẹ học sinh của lớp tham dự giờ sinh hoạt lớp. Qua đó, cha mẹ học sinh trực tiếp nắm bắt được kết quả học tập, rèn luyện đạo đức của con em mình trong tuần, từ đó phối hợp cùng giáo viên chủ nhiệm có biện pháp giáo dục thích hợp.

Thứ chín: Thường xuyên trao đổi với giáo viên bộ môn về tình hình của lớp, về khả năng của học sinh. Thông qua giáo viên bộ môn và các hoạt động đoàn thể, giáo viên chủ nhiệm sẽ nắm bắt được học sinh một cách toàn diện hơn.

Cùng với nhà trường, phối hợp với các lực lượng xã hội khác tổ chức cho học sinh có điều kiện tham gia vào các hoạt động của cộng đồng địa phương và hoạt động xã hội.

Thông qua đó, phát huy tác dụng của nhà trường trong xã hội, góp phần vào sự nghiệp đổi mới xây dựng quê hương đất nước, giáo dục tình yêu và trách nhiệm với quê hương đất nước của các em.

Minh Phong (ghi)

 

GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC Ở 3 MÔI TRƯỜNG: NHÀ TRƯỜNG, GIA ĐÌNH VÀ XÃ HỘI

Email In PDF.

 

Tiến sĩ Nguyễn Văn Huấn

Phó Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo

Điều 2 của Luật Giáo dục năm 2005 nêu rõ “Mục tiêu giáo dục là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khoẻ, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc“.

Nghị quyết số 29-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI) về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế nêu rõ mục tiêu tổng quát của giáo dục và đào tạo là giáo dục con người Việt Nam phát triển toàn diện và phát huy tốt nhất tiềm năng, khả năng sáng tạo của mỗi cá nhân; yêu gia đình, yêu Tổ quốc, yêu đồng bào; sống tốt và làm việc hiệu quả.

Giáo dục là một hoạt động mang tính xã hội cao. Muốn thực hiện được mục tiêu giáo dục toàn diện học sinh, cần phải coi trọng cả giáo dục nhà trường, giáo dục gia đình và giáo dục xã hội. Chỉ riêng nhà trường, chỉ riêng ngành giáo dục thì không thể làm tốt công tác giáo dục toàn diện được.

Quan điểm chỉ đạo của Nghị quyết 29-NQ/TW về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đã tiếp tục khẳng định “Giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và xã hội”.

Nói chuyện tại Hội nghị cán bộ Đảng ngành giáo dục tháng 6/1957, Bác Hồ căn dặn “Phải nhất thiết liên hệ mật thiết với gia đình học sinh. Bởi vì giáo dục trong nhà trường, chỉ là một phần, còn cần có giáo dục ngoài xã hội và trong gia đình để giúp cho việc giáo dục trong nhà trường được tốt hơn. Giáo dục trong nhà trường dù tốt mấy nhưng thiếu giáo dục trong gia đình và ngoài xã hội thì kết quả cũng không hoàn toàn”.

Để thực hiện có hiệu quả công tác phối hợp giữa 3 môi trường nhà trường, gia đình và xã hội trong giáo dục toàn diện học sinh, có thể tập trung thực hiện một số giải pháp cơ bản sau:

1. Nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của công tác phối hợp 3 môi trường giáo dục

Tăng cường tham mưu với các cấp ủy Đảng, chính quyền, phối hợp với các ban, ngành, đoàn thể quan tâm chăm lo cho sự nghiệp giáo dục và đào tạo; thống nhất nhận thức về tầm quan trọng của công tác phối hợp 3 môi trường, nhà trường, gia đình và xã hội trong giáo dục học sinh;  coi sự phối hợp là việc thực hiện thường xuyên, liên tục ở mọi thời điểm và quá trình giáo dục là quá trình lâu dài, không ngừng phát triển; xác định rõ trách nhiệm, quyền hạn của từng môi trường giáo dục; mỗi môi trường giáo dục phải ý thức luôn sẵn sàng phối hợp, chủ động phối hợp mà không có thái độ trông chờ hay ỷ lại vào môi trường giáo dục khác; việc giáo dục cho học sinh là nhiệm vụ chung của nhà trường, gia đình và xã hội; gia đình có trách nhiệm phối hợp với nhà trường và xã hội trong việc giáo dục cho con em mình, tránh tư tưởng ỷ lại, khoán trắng giáo dục học sinh cho nhà trường; xây dựng cơ chế phối hợp, qua đó tạo sự đồng thuận cao và huy động sự tham gia của toàn xã hội cho sự nghiệp giáo dục và đào tạo.

2. Xác định nội dung phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội trong giáo dục học sinh

2.1. Phối hợp trong giáo dục phẩm chất và năng lực cho học sinh

Phối hợp trong giáo dục phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống cho học sinh là để giáo dục cho các em lòng yêu nước, lý tưởng cộng sản, niềm tin đối với sự lãnh đạo của Đảng, bản lĩnh chính trị; giáo dục ý thức chấp hành các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; giáo dục thái độ tích cực tham gia các hoạt động chính trị, xã hội, phân biệt, đánh giá các sự kiện chính trị, xã hội, nhận ra và phê phán những âm mưu, thủ đoạn chính trị của các thế lực thù địch. Giáo dục lòng nhân ái, bao dung, độ lượng, biết trân trọng các giá trị đạo đức của dân tộc, xác định trách nhiệm, nghĩa vụ của bản thân, tư cách, tác phong đúng đắn của người công dân; giáo dục các chuẩn mực đạo đức trong các quan hệ xã hội, phê phán những hành vi không phù hợp với các chuẩn mực đạo đức; giáo dục hành vi đạo đức, đạo đức nghề nghiệp, tác phong công nghiệp. Giáo dục nhận thức, hành vi, thói quen của lối sống văn minh, tiến bộ, phù hợp với bản sắc dân tộc Việt Nam; giáo dục trách nhiệm của cá nhân trước tập thể và cộng đồng, biết ủng hộ, khuyến khích những biểu hiện của lối sống văn minh, tiến bộ, phù hợp với bản sắc dân tộc, biết phê phán những biểu hiện của lối sống lạc hậu, ích kỷ.

Phối hợp triển khai tốt Quyết định số 1501/QĐ-TTg ngày 28/8/2015 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án “Tăng cường giáo dục lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống văn hóa cho thanh, thiếu niên và nhi đồng giai đoạn 2015-2020”.

Phối hợp trong giáo dục hình thành năng lực cho học sinh gồm kiến thức, kĩ năng và kinh nghiệm. Kiến thức, kĩ năng tạo thành năng lực cho học sinh là do nhà trường cung cấp là chủ yếu. Tuy nhiên cũng cần có sự phối hợp của gia đình và xã hội thì việc hình thành năng lực, nhất là năng lực thực tiễn cho học sinh mới thuận lợi và vững chắc hơn.

2.2. Phối hợp trong giáo dục pháp luật

Phối hợp trong  giáo dục pháp luật cho học sinh giúp các em có thái độ và hành động đúng đắn trong việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ của công dân, biết cách phòng chống tội phạm và tránh xa tệ nạn xã hội; nâng cao ý thức và chấp hành tốt quy định của pháp luật, hình thành nhân cách, thái độ và hành động đúng mực, thể hiện trách nhiệm công dân.

Việc giáo dục pháp luật cần được thực hiện theo nhiều hình thức và phương pháp khác nhau, có sự cộng tác chặt chẽ giữa nhà trường, gia đình và xã hội; kết hợp giữa lồng ghép vào giáo dục chính khóa và các hoạt động ngoại khóa. Việc giáo dục pháp luật đòi hỏi không chỉ có giáo viên của trường mà cần huy động sự tham gia của những người làm công tác thi hành pháp luật, bảo vệ pháp luật, cơ quan thông tin đại chúng, các tổ chức đoàn thể…

2.3. Phối hợp trong giáo dục kỹ năng sống

Phối hợp trong giáo dục kỹ năng sống nhằm giúp học sinh có thái độ và hành vi tích cực, có khả năng nhìn nhận vấn đề, giải quyết tình huống theo hướng tích cực, biết thích nghi với từng hoàn cảnh cụ thể; có tinh thần tự chủ, có cách suy nghĩ, thái độ và hành vi tích cực; hình thành lối sống lành mạnh, có đạo đức, có văn hóa, giao tiếp hiệu quả với mọi đối tượng.

Kỹ năng sống chính là nhịp cầu giúp con người biến kiến thức thành thái độ, hành vi và thói quen tích cực, lành mạnh. Việc giáo dục kỹ năng sống không chỉ thực hiện trong nhà trường, qua các môn học chính khóa, dù rất quan trọng, mà còn phải được thực hiện kết hợp với nhiều cách khác như: Trong sự kết hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội; bằng nhiều hoạt động trải nghiệm đa dạng, phong phú như: hoạt động văn hóa, nghệ thuật, hoạt động xã hội, hoạt động ngoại khóa, hoạt động tham quan, dã ngoại; qua các hoạt động đoàn, đội chứng tỏ hiệu quả trong thời gian qua như: Chương trình “Học làm người có ích”, Chương trình “Một ngày để sống-Sống có niềm tin”, Chương trình “Một ngày để sống-Sống biết tiết kiệm”, Chương trình “Vượt qua nỗi sợ hãi”, Chương trình “Học kì quân đội”…

Nội dung giáo dục kỹ năng sống cho học sinh cần tập trung vào các kỹ năng cần thiết như: Kỹ năng tự nhận thức, Kỹ năng xác định giá trị, Kỹ năng giao tiếp, Kỹ năng làm việc theo nhóm, Kỹ năng ra quyết định, Kỹ năng giải quyết vấn đề, Kỹ năng ứng phó với căng thẳng, Kỹ năng hợp tác, Kỹ năng tự tin, Kỹ năng thương lượng….

2.4. Phối hợp trong xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh

Phối hợp trong quản lý học sinh, tạo điều kiện tốt nhất để các em học tập, rèn luyện; phối hợp trong xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh để học sinh rèn đức, luyện tài, đấu tranh chống lại những cái xấu, cái độc hại xâm nhập từ bên ngoài. Gắn xây dựng môi trường văn hóa với các phong trào thi đua “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”, “Trường học thân thiện, học sinh tích cực”, “Gia đình văn hóa”…

Nhà trường cần phối hợp với các tổ chức Đoàn, Đội, ban đại diện cha, mẹ học sinh tổ chức các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục, thể thao, giao lưu, sinh hoạt tập thể … để học sinh có nhiều điều kiện gặp gỡ vui chơi giải trí cùng nhau sau những giờ học trên lớp, tạo môi trường thân thiện, lành mạnh; chủ động kiến nghị với chính quyền địa phương  trong việc quản lý các hoạt động dịch vụ văn hóa, các hàng quán chung quanh trường, ngăn chặn văn hóa phẩm độc hại và các tệ nạn xã hội xâm nhập vào nhà trường, ngăn chặn bạo lực học đường…

Việc xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh cho học sinh có thể được tổ chức thông qua các hoạt động phối hợp với các tổ chức Đoàn, Đội như: Liên hoan Tiếng ca học đường-Vũ điệu tôi yêu, Chương trình Games show Khi tôi 18, Games show Học mà vui-vui mà học, Hội thi tin học trẻ các cấp, Hội thi sáng tạo khoa học-công nghệ, các hoạt động kỷ niệm ngày thành lập Đoàn-Đội, các ngày lễ lớn... tạo nên một môi trường giáo dục lành mạnh, bổ ích, giúp học sinh tránh xa cái xấu.

2.5. Phối hợp trong công tác xã hội hóa giáo dục

Phối hợp trong công tác xã hội hóa giáo dục là để thực hiện phương châm: Toàn xã hội cùng chăm lo cho sự nghiệp giáo dục và đào tạo. Để thực hiện yêu cầu này, cần tăng cường phát huy vai trò các đoàn thể, hội khuyến học, hội cựu giáo chức, ban đại diện cha mẹ học sinh trong việc thực hiện công tác phổ cập giáo dục, kéo giảm tỷ lệ học sinh bỏ học, lưu ban, huy động học sinh bỏ học trở lại lớp để nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục; huy động các nguồn lực đầu tư cơ sở vật chất phát triển giáo dục và đào tạo; huy động các nguồn học bổng, học phẩm, học cụ để hỗ trợ học sinh nghèo, gặp khó khăn, khen thưởng, tôn vinh học sinh đạt thành tích cao trong học tập, rèn luyện.

3. Xác định trách nhiệm của từng môi trường trong công tác phối hợp giáo dục học sinh

Luật Giáo dục năm 2005 tại Chương VI nêu rõ trách nhiệm của từng môi trường trong việc giáo dục học sinh như sau:

Điều 93 về trách nhiệm của nhà trường: Nhà trường có trách nhiệm chủ động phối hợp giữa gia đình và xã hội để thực hiện mục tiêu, nguyên lý giáo dục”.

Điều 94 về trách nhiệm của gia đình: “Mọi người trong gia đình có trách nhiệm xây dựng gia đình văn hóa, tạo môi trường thuận lợi cho việc phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ của con em; người lớn tuổi có trách nhiệm giáo dục, làm gương cho con em, cùng nhà trường nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục”.

Điều 97 về trách nhiệm của xã hội: “Giúp nhà trường tổ chức các hoạt động giáo dục và nghiên cứu khoa học; tạo điều kiện cho nhà giáo và người học tham gia, thực tập, nghiên cứu khoa học. Góp phần xây dựng phong trào học tâp và môi trường giáo dục lành mạnh, an toàn, ngăn chặn những hoạt động có ảnh hưởng xấu đến thanh niên, thiếu niên và nhi đồng. Tạo điều kiện để người học được vui chơi, hoạt động văn hóa, thể dục, thể thao lành mạnh. Hỗ trợ về tài lực, vật lực cho sự nghiệp phát triển giáo dục theo khả năng của mình”.

3.1. Trách nhiệm của nhà trường

- Quản lý tổ chức giảng dạy và các hoạt động giáo dục khác theo mục tiêu, chương trình giáo dục nhằm rèn luyện và hình thành cho học sinh kỹ năng sống, kỹ năng thực hành, năng lực thực tiễn.

- Tăng cường các giải pháp quản lý, tư vấn, giáo dục học sinh như: Triển khai công tác tư vấn tâm lý cho học sinh trong nhà trường nhằm tư vấn, tháo gỡ kịp thời những vướng mắc, mâu thuẫn của học sinh nảy sinh trong cuộc sống; nâng cao trách nhiệm của giáo viên, đặc biệt là giáo viên chủ nhiệm trong việc nắm bắt diễn biến tâm lý của học sinh, phát hiện những mâu thuẫn trong học sinh để kịp thời tư vấn, chia sẻ, phối hợp tháo gỡ mâu thuẫn, giảm triệt để tình trạng bạo lực học đường; phối hợp chặt chẽ với gia đình trong công tác quản lý, giáo dục, đặc biệt đối với những học sinh cá biệt, chưa ngoan, học sinh có hoàn cảnh gia đình đặc biệt.

- Nâng cao vai trò, trách nhiệm của tổ chức Đoàn, Đội, Hội trong việc giáo dục lý tưởng, đạo đức, lối sống, hoài bão, ước mơ cho học sinh.

- Xây dựng nhà trường đảm bảo an ninh, trật tự, cảnh quan xanh, sạch, đẹp; giáo dục học sinh ý thức bảo vệ môi trường. Thực hiện nghiêm túc các quy định về an toàn phòng chống cháy nổ, phòng chống tai nạn thương tích, thiên tai, an toàn giao thông, an toàn vệ sinh thực phấm.

- Phối hợp với chính quyền, đoàn thể địa phương triển khai công tác phổ cập giáo dục, huy động trẻ em đến trường, hạn chế lưu ban, bỏ học, chủ động cùng chính quyền và gia đình tạo điều kiện cho trẻ được hưởng quyền học tập theo quy định của pháp luật.

- Phối hợp với các ban, ngành, cơ quan chức năng, các tổ chức đoàn thể trên địa bàn tổ chức phổ biến, giáo dục pháp luật, trật tự an toàn giao thông, nếp sống văn hóa, phòng chống tội phạm, tai nạn thương tích, giáo dục về sức khoẻ sinh sản vị thành niên, an toàn vệ sinh thực phẩm, môi trường cho học sinh; tạo điều kiện cho học sinh tham gia vào các phong trào, hoạt động văn hóa, thể dục, thể thao, vui chơi, giải trí tại địa phương.

- Định kì báo cáo với cấp ủy, chính quyền địa phương về kết quả thực hiện nhiệm vụ giáo dục của đơn vị, trên cơ sở đó có những kiến nghị, đề xuất, tranh thủ sự lãnh, chỉ đạo của cấp ủy và chính quyền địa phương.

- Phối hợp cùng ban đại diện cha mẹ học sinh huy động các nguồn lực xã hội hỗ trợ cho nhà trường theo quy định của pháp luật hiện hành.

3.2. Trách nhiệm của gia đình

- Nuôi dưỡng, giáo dục và chăm sóc, tạo điều kiện cho con em được học tập, rèn luyện, tham gia các hoạt động của trường; không để con em bỏ học; không phó mặc con em mình cho nhà trường.

- Quản lý, giám sát lịch trình học tập, vui chơi, giải trí, sinh hoạt của con em mình ngoài nhà trường; nắm vững diễn biến tư tưởng, đạo đức, học lực của con em, chủ động thông báo cho nhà trường và giáo viên chủ nhiệm những vấn đề không bình thường của con em minh để thống nhất biện pháp phối hợp giáo đục; chủ động nắm bắt tình hình học tập, rèn luyện của con em mình, trên cơ sở đó, phối hợp cùng nhà trường giáo dục con em mình.

- Tham gia đầy đủ các cuộc họp và các hoạt động giáo dục học sinh khi có yêu cầu của nhà trường; hỗ trợ về tài lực, vật lực cho sự nghiệp phát triển giáo dục theo khả năng của mình.

- Quan tâm nâng cao văn hóa gia đình; cha mẹ phải là tấm gương cho con cái noi theo; người lớn phải là tấm gương trong giao tiếp, ứng xử; loại bỏ bạo lực gia đình.

3.3. Trách nhiệm của xã hội

- Các cấp ủy Đảng, chính quyền quan tâm lãnh, chỉ đạo và hỗ trợ sự nghiệp giáo dục và đào tạo theo chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; tạo các điều kiện thuận lợi cho các hoạt động giáo dục và sự phát triển giáo dục; tuyên truyền để mọi tầng lớp nhân dân trên địa bàn tích cực tham gia công tác xã hội hóa giáo dục. Các cấp chính quyền tuyên truyền về chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước, nâng cao nhận thức, ý thức trách nhiệm của người dân trong việc chấp hành pháp luật, thực hiện lối sống văn hóa, ngăn chặn các hành vi vi phạm pháp luật, vi phạm chuẩn mực đạo đức, bạo lực diễn ra ngoài xã hội; tăng cường quản lý, giáo dục thanh thiếu niên trên địa bàn, đặc biệt là các đối tượng bỏ học, chưa có việc làm ổn định lôi kéo học sinh vi phạm đạo đức, vi phạm pháp luật; quản lý tốt các sản phẩm văn hóa, dịch vụ văn hóa như các tụ điểm vui chơi, giải trí, dịch vụ internet, văn hóa phẩm, kiểm tra, giải tỏa các hàng quán chung quanh trường học, ký túc xá nếu thấy có biểu hiện phức tạp về an ninh, trật tự; tạo điều kiện về cơ sở vật chất, trang thiết bị để học sinh được vui chơi, giải trí, hoạt động thể dục, thể thao lành mạnh.

- Các đoàn thể, tổ chức xã hội vận động người dân tham gia xây dựng nếp sống văn hóa ở cộng đồng dân cư, tạo môi trường lành mạnh, an toàn, ngăn chặn những tác động có ảnh hưởng xấu đến môi trường giáo dục; phối hợp với nhà trường trong việc nâng cao chất lượng giáo dục, hạn chế học sinh lưu ban, bỏ học; huy động các nguồn lực cho sự phát triển giáo dục; sẵn sàng đáp ứng khi nhà trường có những yêu cầu, đề nghị về sự hỗ trợ, giúp đỡ trong công tác giảng dạy, giáo dục học sinh; chủ động xây dựng các quỹ học bổng khuyến học, khuyến tài, quỹ tài năng trẻ để hỗ trợ học sinh gặp khó khăn, khen thưởng động viên kịp thời học sinh có thành tích trong học tập và rèn luyện.

4. Xây dựng cơ chế phối hợp

Nhà trường cần thiết lập và duy trì mối liên hệ chặt chẽ, thường xuyên giữa nhà trường, thông giáo viên, nhất là giáo viên chủ nhiệm, với cha mẹ học sinh qua gặp gỡ trực tiếp, gọi điện thoại, sổ liên lạc truyền thống hoặc điện tử, các buổi họp cha mẹ học sinh để thông báo kịp thời cho gia đình về tình hình học tập, rèn luyện và những vấn đề liên quan đến học sinh cần sự phối hợp của gia đình. Một số địa phương có các mô hình phối hợp với gia đình có thể tham khảo như: Tổ chức hoạt động giáo dục truyền thống lịch sử, yêu nước trong việc bảo vệ chủ quyền biển đảo cho học sinh có sự tham dự của cha mẹ học sinh (Hà Nội); tổ chức hoạt động “Phụ huynh đến trường lắng nghe con nói” (Thành phố Hồ Chí Minh)…

Gia đình thường xuyên chủ động bắt tình hình học tập, rèn luyện của con em mình, đồng thời cung cấp thông tin về tình hình học tập ở nhà, diễn biến tâm lý, tình cảm của con em mình cho nhà trường, thông qua giáo viên, nhất là giáo viên chủ nhiệm bằng các kênh khác nhau như: qua các buổi họp cha mẹ học sinh, qua điện thoại, sổ liên lạc, gặp gỡ trực tiếp, các dịp gặp gỡ khác với nhà trường theo yêu cầu của nhà trường... Gia đình cần tạo điều kiện thuận lợi nhất cho con em tham gia các hoạt động cộng đồng. Các gia đình trong địa bàn dân cư chia sẻ kinh nghiệm giáo dục con em thông qua mối liên hệ làng xóm, sinh hoạt câu lạc bộ, họp phụ huynh, quan hệ bạn bè... Để thiết lập, duy trì và tăng cường mối liên hệ giữa gia đình, nhà trường và xã hội được tốt thì vai trò của gia đình là vô cùng quan trọng. Các bậc cha mẹ cần chủ động xây dựng mối liên hệ và thường xuyên duy trì liên lạc, tránh tình trạng khoán trắng việc giáo dục con em mình cho nhà trường thì việc hỗ trợ con học tập và rèn luyện con em mình mới đạt hiệu quả.

Gia đình có thể phối hợp với nhà trường thông qua Ban đại diện cha mẹ học sinh, do cha mẹ hoặc người giám hộ học sinh đang theo học ở từng lớp, từng trường cử ra để phối hợp với nhà trường thực hiện các hoạt động giáo dục.

Theo Điều lệ của Ban đại diện cha mẹ học sinh, Ban đại diện cha mẹ học sinh lớp có nhiệm vụ: Phối hợp với giáo viên chủ nhiệm lớp và các giáo viên bộ môn tổ chức các hoạt động giáo dục học sinh; phối hợp với giáo viên chủ nhiệm lớp chuẩn bị nội dung của các cuộc họp cha mẹ học sinh trong năm học; tham gia giáo dục đạo đức cho học sinh; bồi dưỡng, khuyến khích học sinh giỏi, giúp đỡ học sinh yếu kém, vận động học sinh đã bỏ học trở lại tiếp tục học tập; giúp đỡ học sinh nghèo, học sinh khuyết tật và học sinh có hoàn cảnh khó khăn khác.

Ban đại diện cha mẹ học sinh trường có nhiệm vụ: Phối hợp với Hiệu trưởng tổ chức thực hiện nhiệm vụ năm học và các hoạt động giáo dục theo nội dung được thống nhất tại cuộc họp đầu năm học của Ban đại diện cha mẹ học sinh trường; phối hợp với Hiệu trưởng hướng dẫn, tuyên truyền, phổ biến pháp luật, chủ trương chính sách về giáo dục đối với cha mẹ học sinh nhằm nâng cao trách nhiệm chăm sóc, bảo vệ, giáo dục học sinh; phối hợp với Hiệu trưởng tổ chức giáo dục học sinh hạnh kiểm yếu tiếp tục rèn luyện trong dịp nghỉ hè ở địa phương; phối hợp với Hiệu trưởng giáo dục đạo đức cho học sinh; bồi dưỡng, khuyến khích học sinh giỏi, giúp đỡ học sinh yếu kém; giúp đỡ học sinh nghèo, học sinh khuyết tật và học sinh có hoàn cảnh khó khăn khác; vận động học sinh đã bỏ học trở lại tiếp tục đi học; hướng dẫn về công tác tổ chức và hoạt động cho các Ban đại diện cha mẹ học sinh lớp.

Chính quyền, các đoàn thể, tổ chức xã hội ở địa phương, cần phải thường xuyên nắm bắt tình hình học sinh bỏ học, lưu ban, học sinh gặp khó khăn trên địa bàn để kịp thời hỗ trợ trong ngăn chặn học sinh bỏ học, vận động học sinh bỏ học trở lại lớp, hình thành các quỹ học bổng để hỗ trợ học sinh nghèo gặp khó khăn, khen thưởng học sinh giỏi. Giữa nhà nhà trường và công an địa phương cần có quy chế phối hợp trong giữ gìn an ninh, trật tự trong và ngoài nhà trường, ngăn chặn tệ nạn xã hội xâm nhập vào nhà trường, ngăn chặn bạo lực học đường, triển khai tốt Thông tư liên tịch số 06/2015/TTLT-BGDĐT-BCA về việc hướng dẫn phối hợp thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia và bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, đấu tranh phòng chống tội phạm, vi phạm pháp luật khác trong ngành giáo dục; giữa nhà trường với các đoàn thể, tổ chức xã hội cùng kí quy chế phối hợp trong hỗ trợ nâng cao chất lượng giáo dục, huy động các nguồn lực hỗ trợ cho nhà trường. Định kì họp giao ban giữa nhà trường với chính quyền địa phương, các tổ chức chính trị-xã hội trên địa bàn để cùng phối hợp trong công tác giáo dục học sinh, cùng chăm lo cho sự nghiệp giáo dục.


 

Giáo dục kỹ năng sống cho học sinh phổ thông

Email In PDF.

Tiến sĩ Nguyễn Văn Huấn

Phó Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo Bến Tre


I. VAI TRÒ, THỰC TRẠNG CỦA CÔNG TÁC GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH PHỔ THÔNG HIỆN NAY

1. Khái niệm kỹ năng sống

Có nhiều cách tiếp cận khái niệm kỹ năng sống (KNS). Tuy nhiên, có thể tiếp cận khái niệm KNS qua 4 trụ cột của giáo dục theo UNESCO: Học để biết (learning to know), học để khẳng định bản thân (learning to be), học để chung sống (learning to live together) và học để làm việc (learning to do).

Tiếp cận theo 4 trụ cột trên thì KNS có thể hiểu là: kỹ năng học tập, kỹ năng làm chủ bản thân, kỹ năng thích ứng và hòa nhập với cuộc sống, kỹ năng làm việc.

Tuy nhiên, kỹ năng sống (life skills) có thể hiểu là khả năng làm chủ bản thân của mỗi người, khả năng ứng xử phù hợp với những người khác, với xã hội và khả năng ứng phó tích cực trước các tình huống của cuộc sống.

Có thể nói kỹ năng sống chính là nhịp cầu giúp con người biến kiến thức thành thái độ, hành vi và thói quen tích cực, lành mạnh.

2. Vai trò của công tác giáo dục KNS trong thực hiện yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông hiện nay

Chương trình giáo dục phổ thông hiện hành quan tâm chủ yếu tới cung cấp kiến thức cho học sinh. Chương trình như vậy được xây dựng theo hướng tiếp cận nội dung dạy học, khác với một chương trình được xây dựng theo hướng tiếp cận năng lực, tức là xuất phát từ các năng lực mà mỗi học sinh cần có trong cuộc sống và kết quả cuối cùng phải đạt các năng lực ấy bằng việc xây dựng chuẩn đầu ra về năng lực mà học sinh cần phải đạt được sau một quá trình dạy - học.

Khác với cách tiếp cận nội dung, tiếp cận năng lực chú trọng vào việc yêu cầu học sinh học xong phải thể hiện được, làm được; biết vận dụng những kiến thức để giải quyết các tình huống đặt ra trong cuộc sống, ... Vì thế, việc học tập theo hướng tiếp cận này trở nên gần gũi và thiết thực đối với cá nhân và cộng đồng.

Theo đó, nội dung, phương pháp dạy học, phương pháp kiểm tra đánh giá đều phải hướng tới năng lực tự học, năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề trong học tập, trong cuộc sống; coi trọng rèn luyện kỹ năng sống.

Trong thời gian qua, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã tổ chức một số hoạt động hướng tới việc rèn luyện năng lực cho học sinh như: Tổ chức Chương trình đánh giá học sinh quốc tế PISA với cách đánh giá kỹ năng vận dụng kiến thức vào giải quyết các vấn đề thực tiễn trong cuộc sống; tổ chức cuộc thi vận dụng kiến thức liên môn giải quyết các vấn đề thực tiễn; triển khai phương pháp dạy học "Bàn tay nặn bột", là phương pháp dạy học khoa học được tiến hành dưới sự giúp đỡ của giáo viên, chính học sinh tìm ra câu trả lời cho các vấn đề được đặt ra trong cuộc sống thông qua tiến hành thí nghiệm, quan sát, nghiên cứu tài liệu hay điều tra để từ đó hình thành kiến thức cho mình.

Ở Việt Nam, với Đề án đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo, mục tiêu giáo dục đang chuyển hướng từ trang bị kiến thức nặng lý thuyết sang trang bị những năng lực cần thiết và phẩm chất cho người học. Điều đó cũng khẳng định thêm tầm quan trọng và yêu cầu thiết yếu đưa giáo dục KNS vào trường học cùng với các môn học và các hoạt động giáo dục.

3. Thực trạng của công tác giáo dục kỹ năng sống cho học sinh phổ thông hiện nay

3.1. Một trong những hạn chế của giáo dục phổ thông hiện nay là chưa chú trọng giáo dục KNS cho học sinh

Theo Điều 2 của Luật Giáo dục năm 2005, mục tiêu giáo dục là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khoẻ, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Tuy nhiên, nội dung và phương pháp giáo dục trong các nhà trường hiện nay là còn xem trọng việc dạy chữ, chưa chú trọng đúng mức dạy làm người, nhất là việc giáo dục KNS cho học sinh.

Thông báo 242-TB/TW ngày 15/4/2009 của Bộ Chính trị (khóa X) về tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 2 (khóa VIII) và phương hướng phát triển giáo dục và đào tạo đến năm 2020, đã nêu một trong những hạn chế của giáo dục phổ thông như sau: “Giáo dục phổ thông mới chỉ quan tâm nhiều đến “dạy chữ”, chưa quan tâm đúng mức đến “dạy người”, kỹ năng sống và “dạy nghề” cho thanh thiếu niên”.

3.2. Thực trạng giáo dục kỹ năng sống cho học sinh phổ thông

Trong thực tế, khi xây dựng chương trình dạy học, nội dung dạy học trên lớp, giáo viên đều phải xây dựng 3 mục tiêu: cung cấp kiến thức, rèn luyện kỹ năng, hình thành thái độ. Đây là yêu cầu mang tính nguyên tắc trong dạy học và giáo viên đều nhận thức sâu sắc yêu cầu này. Tuy nhiên, có thể nói rằng do phải chạy theo thời gian, phải chuyển tải nhiều nội dung trong khi thời gian có hạn, giáo viên có khuynh hướng tập trung cung cấp kiến thức mà ít quan tâm rèn luyện kỹ năng cho học sinh, nhất là kỹ năng ứng xử với xã hội, ứng phó và hòa nhập với cuộc sống.

Trong thời gian gần đây, giáo dục KNS cho học sinh được quan tâm nhiều hơn. Giáo dục KNS cho học sinh phổ thông hiện nay không bố trí thành một môn học riêng trong hệ thống các môn học của nhà trường phổ thông bởi KNS phải được giáo dục ở mọi lúc, mọi nơi khi có điều kiện, cơ hội phù hợp. Do đó, giáo dục KNS phải thực hiện thông qua từng môn học và trong các hoạt động giáo dục. Vì vậy, cơ hội thực hiện giáo dục KNS rất nhiều và rất đa dạng. Có thể đề cập tới một số phương thức tổ chức sau: Thông qua dạy học các môn học; qua chủ đề tự chọn; qua hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp; qua hoạt động trải nghiệm.

Sự phối hợp chặt chẽ giáo dục KNS với các hoạt động giáo dục vốn đã được lồng ghép vào chương trình giáo dục từ nhiều năm nay như giáo dục bảo vệ môi trường, phòng chống ma tuý, giáo dục pháp luật, sức khỏe sinh sản vị thành niên, … tạo nhiều cơ hội và điều kiện để triển khai giáo dục KNS.

3.3. Thực trạng kỹ năng sống của học sinh phổ thông

Thời gian qua, dù giáo dục KNS có được quan tâm nhưng hiệu quả vẫn còn nhiều hạn chế thể hiện qua thực trạng về KNS của học sinh còn nhiều khiếm khuyết.

Thực tế cho thấy, tình trạng học sinh thiếu KNS vẫn xảy ra, biểu hiện qua hành vi ứng xử không phù hợp trong xã hội, sự ứng phó hạn chế với các tình huống trong cuộc sống như: ứng xử thiếu văn hóa trong giao tiếp nơi công cộng; thiếu lễ độ với thầy cô giáo, cha mẹ và người lớn tuổi; chưa có ý thức bảo vệ môi trường, giữ gìn vệ sinh công cộng, gây phiền hà cho người khác khi sử dụng điện thoại di động, ....

II. NHỮNG THUẬN LỢI  VÀ KHÓ KHĂN, HẠN CHẾ CỦA VIỆC GIÁO DỤC KNS CHO HỌC SINH PHỔ THÔNG

1. Thuận lợi

- Bộ và Sở Giáo dục và Đào tạo đã tổ chức nhiều lớp tập huấn, bồi dưỡng cho cán bộ quản lý, giáo viên về giáo dục KNS cho học sinh phổ thông; hướng dẫn tích hợp giáo dục KNS vào các địa chỉ qua một số môn học và hoạt động giáo dục ở các cấp học phổ thông.

- Nhìn chung cán bộ quản lý và giáo viên trong các trường phổ thông đã bước đầu làm quen với thuật ngữ “kỹ năng sống”, mặc dù mức độ hiểu biết có khác nhau.

- Một số hoạt động giáo dục KNS đã được đa số các trường chú ý thực hiện trong khuôn khổ và yêu cầu của Phong trào “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” do Bộ Giáo dục và Đào tạo phát động.

- Giáo dục KNS từ nhà trường cũng như qua các phương tiện thông tin đại chúng đã thu hút được sự chú ý và hưởng ứng của xã hội, của phụ huynh học sinh.

- Hình thức tổ chức giáo dục KNS đã bước đầu được thực hiện trong một số môn học, thông qua hoạt động ngoại khoá và các hoạt động trải nghiệm với nội dung khá đa dạng.

2. Khó khăn, hạn chế

- Ý nghĩa, tầm quan trọng của giáo dục KNS chưa được nhận thức một cách đúng mức trong một bộ phận cán bộ quản lý, giáo viên.

- Khi thực hiện giáo dục KNS, giáo viên còn gặp nhiều khó khăn, lúng túng (chưa có tài liệu cho giáo viên và học sinh, tiêu chí đánh giá chưa cụ thể,…). Tổ chức giáo dục KNS có những đặc thù riêng khác với các hoạt động giáo dục khác, nội dung giáo dục không chỉ diễn ra trong môn học mà còn thông qua một số hoạt động khác (hoạt động ngoài giờ lên lớp, câu lạc bộ,...) cho nên phải tính đến cơ sở vật chất, kinh phí để thực hiện.

- Giáo viên quen với việc tập trung cung cấp kiến thức mà không hoặc ít quan tâm giáo dục KNS cho học sinh.

III. NHỮNG NỘI DUNG, GIẢI PHÁP  GIÁO DỤC KNS CHO HỌC SINH PHỔ THÔNG TRONG THỜI GIAN TỚI

Việt Nam, giáo dục KNS đang được quan tâm, tuy nhiên trong nhà trường chủ yếu học sinh chỉ được dạy kỹ năng học tập, việc giáo dục KNS như tên gọi của nó (life skills) với ý nghĩa là học làm người (learning to be) và nhất là kỹ năng thích ứng, hòa nhập với cuộc sống, ứng phó tích cực với các tình huống trong cuộc sống (learning to live together) chưa được quan tâm nhiều.

Theo cách tiếp cận khái niệm KNS qua 4 trụ cột của giáo dục của UNESCO, chúng ta cần tập trung rèn luyện cho học sinh phổ thông 2 nhóm KNS sau đây:

Nhóm kỹ năng trong học tập, làm việc, vui chơi giải trí:

- Các kỹ năng nghe, đọc, nói, viết, quan sát, đưa ra ý kiến chia sẻ trong nhóm;

- Kỹ năng giữ gìn vệ sinh cá nhân, vệ sinh chung;

- Kỹ năng làm việc theo nhóm;

- Các kỹ năng tư duy logic, sáng tạo, suy nghĩ nhiều chiều, các kỹ năng tư duy xuyên môn như: phân tích, tổng hợp, so sánh v.v…

Nhóm kỹ năng giao tiếp, hòa nhập, ứng phó với các tình huống cuộc sống:

- Biết chào hỏi lễ phép trong nhà trường, ở nhà và ở nơi công cộng;

- Kỹ năng kiểm soát tình cảm, kìm chế thói hư tật xấu, sở thích cá nhân;

- Biết phân biệt hành vi đúng - sai, phòng tránh tai nạn;

- Kỹ năng trình bày ý kiến, diễn đạt, thuyết trình trước đám đông;

- Kỹ năng ứng phó với biến đổi khí hậu như động đất, sóng thần, bão lũ; kỹ năng ứng phó với tai nạn như cháy, nổ...;

- Kỹ năng ứng phó với tai nạn đuối nước;

- Kỹ năng sống còn là những kiến thức về giới tính, chống lại sự cám dỗ từ tệ nạn xã hội, chống xâm phạm tình dục;

-  Kỹ năng ứng phó với một tình huống bạo lực trong học sinh (khi tình trạng bạo lực trong học sinh thường xảy ra), …..

Kỹ năng sống của học sinh chỉ có thể được hình thành thông qua hoạt động học tập cũng như các hoạt động giáo dục khác trong và ngoài nhà trường

Việc giáo dục KNS không chỉ thực hiện trong nhà trường, qua các môn học chính khóa, dù rất quan trọng, mà còn phải được thực hiện kết hợp với nhiều cách khác như:

+ Trong sự kết hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội;

+ Bằng nhiều hoạt động trải nghiệm đa dạng, phong phú như: hoạt động văn hóa, nghệ thuật; hoạt động xã hội, hoạt động ngoại khóa; hoạt động tiếp cận khoa học-kĩ thuật; hoạt động tham quan, dã ngoại;

+ Qua các hoạt động Đoàn, Đội chứng tỏ hiệu quả trong thời gian qua như: Chương trình “Học làm người có ích”, Chương trình “Một ngày để sống -Sống có niềm tin”, Chương trình “Một ngày để sống - Sống biết tiết kiệm”, Chương trình “Vượt qua nỗi sợ hãi”, Chương trình “Học kì quân đội”… .

 
Trang 1 của 16

Danh mục

Đăng nhập