Sở Giáo dục và Đào Tạo Bến Tre

Lịch sử, Địa lý, Ngữ văn địa phương

Nhà giáo Võ Trường Toản - Cụ tổ ngành giáo dục Nam Kỳ

Email In PDF.
Kỷ niệm 220 năm ngày mất nhà giáo Võ Trường Toản (27/7/1792 - 27/7/2012): Nhà giáo Võ Trường Toản - Cụ tổ ngành giáo dục Nam Kỳ
Người viết: Bùi Chương   
25/07/2012

(bentre.gov.vn)-Tìm hiểu từ tư liệu bằng chữ hán "Đại Nam Nhất Thống Chí" có ghi: Tổ tiên Võ Trường Toản có nguồn gốc từ miền Trung, Việt Nam, rồi di cư vào Nam theo làn sóng chung, được khởi phát mạnh mẽ kể từ năm 1623. Đây cũng là năm mà người Việt chính thức vào xứ Đồng Nai, Gia Định lập nghiệp. Và địa chí Bến Tre cũng ghi lại: Võ Trường Toản là người huyện Bình Dương, phủ Tân Bình, tỉnh Gia Định, không ai rõ năm sinh, không rõ gốc gác, chỉ biết cụ là một nhà nho lớn, một nhà giáo đức độ tài ba, lỗi lạc ở miền Nam, Việt Nam ở thế kỷ 18.

Về tiểu sử của cụ được đại thần Phan Thanh Giản tóm tắt trong một bài văn bia chữ Hán, soạn vào năm Đinh Mão (1867) được tạm dịch như sau: "Tiên sinh họ Võ, húy Trường Toản. Đời trước hoặc nói là người Thanh Kệ (Quảng Đức), hoặc người Bình Dương (Gia Định), trước theo nghiệp cùng ai chưa biết rõ. Chỉ biết sở học của tiên sinh đã tới bậc dày dặn, đầy đủ, chất thật và có thuật nghiệp thâm uyên, thông đạt. Ở ẩn mở trường dạy học, thường học trò đến mấy trăm người. Ông Ngô Tùng Châu là môn sinh cao đệ nhất. Bậc thượng hạng có các ông Trịnh Hoài Đức, Phạm Ngọc Uẩn, Lê Quang Định, Lê Bá Phẩm, Ngô Nhơn Tĩnh.... Bậc danh sĩ có ông Chiêu, ông Trúc đều ẩn dật. Ngoài ra, không kể hết được...".

Các học trò ấy của cụ thời bấy giờ có những người nổi tiếng như Trịnh Hoài Đức, Ngô Nhơn Tĩnh, Lê Quang Định được gọi là "Gia Định tam gia thi" và đều gặp hồi phong vận, thời trung hưng, cả thảy đều nên công nghiệp lớn trong đời.... Đạt được kết quả ấy bởi cụ Võ có cách dạy học rất  khoa học.

Ai cũng biết cụ Võ Trường Toản là một nhà nho, nhưng cụ không rơi vào lối dạy máy móc, giáo điều của nho học lạc hậu, cổ hủ. Cụ chủ trương, lấy lối học "Nghĩa lý để giáo hóa". Khi giảng với học trò về sách Đại học, một sách trong Tứ thư, cụ nói rõ: "Sách Đại học một nghìn bảy trăm chữ, tán ra gồm vô số sự vật, tóm lại còn 200 chữ, tóm nữa thì còn một chữ, tóm lại nữa một chữ cũng không". Đại ý cụ căn dặn học trò cần thấu triệt nội dung của cuốn sách, chứ không nên học vẹt từng câu, từng chữ, cách dạy ấy thường gọi là “Tri ngôn dưỡng khí”, tri ngôn là hiểu lời, còn dưỡng khí là nuôi dưỡng khí phách, muốn có được khí phách phải tập nghĩa, tức là làm việc nghĩa, cống hiến hết mình cho nghĩa lớn.

Cũng theo sử sách ghi lại, trong thời chiến tranh Tây Sơn - Nguyễn Ánh, cụ ẩn dật nơi quê nhà, từ chối mọi điều ban phát, không tham gia vào chính sự. Cụ ẩn dật là không ra làm quan cho cả Tây Sơn lẫn chúa Nguyễn hay với bất cứ chính quyền nào khác, nhưng cụ không ẩn dật với xã hội. Cụ đã mở trường dạy học hàng trăm học sinh, nhiều người đã đổ đạt làm quan lớn, nhiều người chỉ học để sống cho có đạo lý. Song, tất cả đều là "Hào khí Đồng Nai", và hào khí ấy đã được Võ Trường Toản hun đúc cho người đương thời và còn tồn tại mãi mãi về sau. Những nho sĩ tiết tháo thuộc thế hệ sau như Nguyễn Đình Chiểu, Huỳnh Mẫn Đạt, Phan Văn Trị, Bùi Hữu Nghĩa, Trương Định, Nguyễn Hữu Huân,... đều đã chịu ảnh hưởng về đạo đức, học phong, sĩ khí của nhà giáo Võ Trường Toản, nên đã giữ tròn tiết tháo khi nước nhà bị xâm lược.

Võ Trường Toản còn là một nhà thơ, nhưng những trước tác của cụ gần như bị thất lạc toàn bộ, trong tàn thư chỉ còn lưu giữ một bài phú "Hoài cổ" duy nhất 24 "đối câu". Với bút pháp cổ điển - những điển tích, hình ảnh đều lấy từ Trung Hoa - tác giả bài phú muốn ký thác vào đó tâm sự cùng quan niệm về đời, về người, cùng những gì mà cụ đã chứng kiến trong một giai đoạn lịch sử đầy biến động. Thông qua bài thơ, tác giả muốn "ôn chuyện cũ" để giáo huấn người đời "lòng nhân nghĩa". Với cụ trong sự thăng trầm, biến đổi xã hội, chỉ có lòng nhân nghĩa mới là cái trường tồn đích thực. Bởi vậy, con người phải quyết tâm gìn giữ. Từ tư cách, đức độ ấy, người cùng thời tặng cho thầy Võ Trường Toản danh hiệu "Gia Định sùng đức xử sĩ" quả là không ngoa chút nào.

Cụ Võ Trường Toản mất ngày mùng 9 tháng 5 âm lịch năm Nhâm Tý (nhằm 27/7/1792) tại làng Hòa Hưng, huyện Bình Dương, Phủ Tân Bình, tỉnh Gia Định và được an táng tại địa phương trên. Hay tin ông mất, Chúa Nguyễn cảm mến, tiếc thương, ban từ hiệu là "Gia Định xử sĩ Sùng Đức Võ tiên sinh"  (nghĩa là bậc xử sĩ Võ Tiên Sinh, người Gia Định, sùng về đức độ), để ghi vào bia mộ. Và để tưởng nhớ công đức của thầy, học trò cũ của ông có đôi liễn tưởng niệm:

"Sinh tiền giáo huấn đắc nhân, vô tử nhi hữu tử

Một hậu thịnh danh tại thế, tuy vong giả bất vong".

Dịch

"Lúc sống dạy dỗ được người, không con mà như có

Khi mất, tiếng tăm còn để, thân tan danh vẫn còn".

Dù không phải là học trò của Võ Trường Toản, nhưng Phan Thanh Giản hết lòng kính trọng Võ Trường Toản  như thầy, luôn tưởng nhớ tới đức độ cao dày của cụ, nên khi ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ rơi vào tay giặc Pháp (1862), Phan Thanh Giản không muốn hài cốt của bậc danh nhân nằm trong vùng đất bị giặc chiếm, đã cùng với Nguyễn Thông (đốc học Vĩnh Long), Hiệp trấn thành An Giang - Phạm Hữu Chánh, cũng nhiều sĩ phu yêu nước khác bàn việc cải táng hài cốt cụ Võ Trường Toản.

Ngày 28/3/1867, năm Tự Đức thứ 18, hài cốt của cụ Võ Trường Toản được rước về cải táng tại làng Bảo Thạnh, thuộc tỉnh Vĩnh Long (nay thuộc huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre). Di hài vợ cùng ấu nữ cũng được cải táng cạnh mộ của cụ. Mộ của cả ba xây theo hướng Đông - Bắc ngó về Tây Nam, xây dựng theo dạng voi phục. Khu mộ nằm trên một gò đất cao ráo, trong khuôn viên thoáng rộng, có cây che bóng mát, chung quanh mộ được trồng nhiều loại cây như đào, vẹt,... tạo nên cảnh quan thanh thoát, vừa trang nghiêm, vừa tươi mát nhẹ nhàng, hài hòa giữa công trình và cảnh quan thiên nhiên.

Cụ Võ Trường Toản không ra làm quan nên đại khái không thấy được sự nghiệp, nhưng công dạy dỗ, giáo dục của ông vẫn còn sống mãi với người đời qua nhiều thế kỷ cho đến ngày nay. Khi nhắc đến cụ, các nhân sĩ trí thức, các nhà nghiên cứu đều gọi Võ Trường Toản là "Cụ tổ ngành giáo dục Nam Kỳ".

Do những công lao to lớn của cụ Võ Trường Toản đối với dân tộc và đất nước trong sự nghiệp giáo dục, nơi yên nghỉ của cụ tại xã Bảo Thạnh, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre đã được Bộ Văn hóa - Thông tin (nay là Bộ VHTTDL) công nhận "Di tích Mộ Võ Trường Toản" là di tích cấp Quốc gia vào ngày 24/01/1998.

Mặc dù Võ Trường Toản không phải là người sinh trưởng tại làng Bảo Thạnh, huyện Ba Tri, nhưng hài cốt của cụ và cả gia đình đều được đất đai và người dân Bến Tre nói chung và Bảo Thạnh nói riêng đã ấp ủ, bảo bọc từ bao đời nay. Mỗi năm đến ngày giỗ của cụ, chính quyền và nhân dân địa phương đến viếng, dâng hương rất đông. Ngoài ra, còn có nhiều đoàn khách khắp nơi đến viếng, tỏ lòng tôn kính bậc danh nhân. Năm 2012, các cấp ngành của tỉnh ta sẽ tổ chức kỷ niệm 220 năm ngày mất của cụ vào sáng ngày 26/7/2012 tại khu “Di tích Mộ Võ Trường Toản” tại xã Bảo Thạnh, huyện Ba Tri.

Hiện tại, khu di tích này đã được trùng tu tôn tạo và xây dựng mới thêm 01 đền thờ, bên trong có đặt tượng thờ cụ Võ Trường Toản. Còn nhà thờ mái cong hai tầng, trước đây là nơi thờ cụ, nay được mở rộng làm điểm tiếp đón khách thập phương đến viếng thăm, tưởng nhớ, tôn kính tài năng và đức độ một người thầy của bao lớp thầy. "Vạn thế sư biểu", "Kẻ sĩ Gia Định", "Sùng đức xử sĩ"... là những danh hiệu mà dân Nam Bộ dành cho tặng cho cụ, điều đó để nói lên lòng tôn kính, ngưỡng mộ, tự hào về một người thầy đã làm rạng danh cho xứ sở này.

 

Công văn 149/SGDĐT-GDTrH Hướng dẫn chuẩn KTKN chương trình Ngữ văn, Lịch sử, Địa lý địa phương

Email In PDF.

Công văn 149/SGDĐT-GDTrH ngày 13/02/2012 Hướng dẫn chuẩn KTKN chương trình Ngữ văn, Lịch sử, Địa lý địa phương

File đính kèm:
Download this file (1490001.pdf)1490001.pdf[ ]425 Kb
 

ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH KINH TẾ-XÃ HỘI NĂM 2011 VÀ ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂM 2012 CỦA TỈNH BẾN TRE

Email In PDF.
Mừng xuân Canh Thìn 2012
ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH KINH TẾ-XÃ HỘI  NĂM 2011
VÀ ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂM 2012 CỦA TỈNH BẾN TRE

(Website UBND tỉnh Bến Tre)-Năm 2011, kinh tế của tỉnh tiếp tục duy trì tốc độ tăng trưởng, một số ngành, lĩnh vực sản xuất chủ yếu đều có sự gia tăng về quy mô, chất lượng được cải thiện, cơ bản đáp ứng yêu cầu sản xuất, tiêu dùng và phục vụ xuất khẩu; chất lượng giáo dục ở các cấp học được nâng lên, đào tạo nghề được đẩy mạnh, an sinh xã hội được đảm bảo; an ninh, trật tự và an toàn xã hội ổn định. Đây là kết quả rất quan trọng trong điều kiện kinh tế - xã hội còn nhiều khó khăn.

Nhìn lại một năm triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ IX nhiệm kỳ 2010-2015, Nghị quyết của HĐND tỉnh về nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội năm 2011 trong bối cảnh chịu sự tác động của lạm phát, giá cả các mặt hàng thiết yếu phục vụ sản xuất, tiêu dùng và lãi suất tín dụng tăng cao, thời tiết diễn biến phức tạp, nắng nóng, nước mặn xâm nhập sâu và kéo dài như các năm qua,... đã làm hạn chế rất lớn đến kết quả sản xuất, kinh doanh. Đời sống của đại bộ phận người dân, đặc biệt là người nghèo, có mức thu nhập thấp và người làm công ăn lương gặp nhiều khó khăn.

Tuy nhiên, với tinh thần Đồng Khởi của cả hệ thống chính trị, sự nỗ lực, phấn đấu của nhân dân, cộng đồng doanh nghiệp trong tỉnh, cùng với sự hỗ trợ của Chính phủ, các Bộ, ngành Trung ương đã giúp tỉnh nhà khắc phục khó khăn, tiếp tục duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế, đảm bảo an sinh xã hội, giữ vững quốc phòng an ninh, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn ổn định.

Tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP) năm 2011 ước đạt 8,74% (NQ 11,5%), mặc dù không đạt chỉ tiêu Nghị quyết đề ra nhưng giá trị sản xuất cả 3 khu vực đều có sự tăng trưởng: Giá trị sản xuất nông-lâm-ngư nghiệp tăng 7,5%, giá trị sản xuất công nghiệp-xây dựng tăng 18,3%, giá trị các ngành dịch vụ tăng 8,7%. Thu nhập bình quân đầu người ước đạt 23,7 triệu đồng, tăng 35% so với năm 2010, đã góp phần cải thiện đời sống người dân trong tỉnh.

Sản xuất nông nghiệp tiếp tục phát triển theo hướng tăng năng suất, chất lượng và hiệu quả, cơ cấu cây trồng, vật nuôi tiếp tục chuyển đổi phù hợp với từng vùng sinh thái và có giá trị kinh tế cao. Các mô hình sản xuất thâm canh và trồng xen, nuôi xen như trồng xen ca cao, nuôi tôm càng xanh trong vườn dừa tiếp tục được nhân rộng. Một số mô hình trồng cây ăn trái như chôm chôm, nhãn, bưởi da xanh đạt chất lượng theo tiêu chuẩn Global Gap, ViệtGap và UTZ trên ca cao,... tại huyện Chợ Lách, Châu Thành đang được nhân rộng. Sản suất cây giống như xoài, sầu riêng, bưởi da xanh và hoa kiểng như kim phát tài, kiểng lá màu, bông sai...tiếp tục phát triển. Chăn nuôi phát triển về qui mô, đàn heo tăng 2%, đàn gia cầm tăng 4,9% so với năm 2010, chất lượng đàn gia súc, gia cầm được cải thiện nhờ ứng dụng kỹ thuật về lai tạo và nhân giống mới; các dịch bệnh nguy hiểm được kiểm soát.

Nuôi thủy sản những tháng đầu năm mặc dù có xảy ra hiện tượng nghêu chết, hội chứng hoại tử gan tuỵ trên tôm sú đã gây thiệt hại khá lớn, nhưng nhờ kịp thời tăng cường công tác quản lý dịch bệnh vùng nuôi, đồng thời khuyến cáo người dân chuyển đối tượng nuôi tôm thẻ nên sản lượng nuôi thủy sản cả năm vượt 17,26% so với kế hoạch, trong đó chủ yếu là sản lượng nuôi tôm thẻ chân trắng (ước 21.466 tấn, tăng gấp 4,25 lần). Nuôi cá tra thâm canh phát triển dần ổn định. Năm 2011, giá bán các loại thủy sản nuôi đều tăng khá so với năm trước nên người nuôi có lãi. Hoạt động khai thác thủy sản tuy tốc độ tăng trưởng chậm so với năm trước, nhưng khai thác theo hướng xa bờ tăng mạnh (trong năm 2011 số tàu đánh bắt xa bờ tăng 255 chiếc so với năm 2010), phù hợp với xu hướng đánh bắt hiện nay, sản lượng khai thác vượt 22,3% so kế hoạch. Tổng sản lượng thủy sản năm 2011 đạt 309 ngàn tấn, tăng 6,4% so năm 2010, là yếu tố chủ yếu tạo ra giá trị tăng thêm của khu vực nông nghiệp, thủy sản.

Sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, tuy chịu tác động lớn của lạm phát ngoài dự báo, khó khăn về thiếu nguyên liệu, chi phí đầu vào tăng,… nhưng các doanh nghiệp vẫn chủ động tổ chức sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, phần lớn các doanh nghiệp trong khu công nghiệp đi vào hoạt động ổn định sau giai đoạn sản xuất thử, từ đó góp phần tạo ra giá trị sản xuất toàn ngành tăng 23,2% so năm 2010, trong đó ghi nhận sự tăng trưởng vượt bậc của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài, tăng 134,2% so với năm trước. Công tác đầu tư cơ sở hạ tầng khu công nghiệp Giao Long và An Hiệp được tập trung thực hiện, các khu công nghiệp còn lại đang khẩn trương hoàn chỉnh quy hoạch chi tiết để làm cơ sở kêu gọi đầu tư hạ tầng và thu hút đầu tư mới trong năm 2012. Công tác xúc tiến đầu tư được quan tâm đẩy mạnh, trong năm 2011, có 90 nhà đầu tư đến tìm hiểu cơ hội đầu tư tại tỉnh và có 09 dự án đã được chấp thuận chủ trương và hỗ trợ 10 dự án mở rộng, phát triển sản xuất.

Năm 2011, kim ngạch xuất khẩu tăng khá, ước đạt 363,93 triệu USD, tăng 37,8% so cùng kỳ. Công tác quản lý thị trường, quản lý giá được quan tâm, không để xảy ra tình trạng khan hiếm hàng hoá, tăng giá đột biến, góp phần ổn định thị trường. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ xã hội ước đạt 101,2% kế hoạch, tăng 19,1% so cùng kỳ. Công tác xây dựng, nâng cấp hệ thống chợ được quan tâm thực hiện, đã xây dựng và nâng cấp được 10 chợ, với tổng kinh phí là 18,37 tỷ đồng. Thực hiện tốt chủ trương vận động Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam, đã tổ chức được 05 phiên chợ đưa hàng Việt về nông thôn, 06 đợt bán hàng lưu động và 1.685 chương trình khuyến mại. Qua đó, thu hút được sự quan tâm của người dân về ưu tiên dùng hàng Việt.

Hoạt động du lịch đã có sự chuyển biến tích cực, một số dự án đầu tư phục vụ du lịch đang được triển khai như: điểm du lịch Forrever Green Resort, du lịch sinh thái Vàm Hồ,… Năm 2011, doanh thu du lịch tăng 22,5% so cùng kỳ; lượt khách du lịch tăng 12,9%, trong đó khách quốc tế tăng 12,9% so năm 2010.

Các hoạt động dịch vụ khác như vận tải, bưu chính viễn thông, bảo hiểm, ngân hàng, cấp điện, nước sinh hoạt,… tiếp tục tăng về doanh số và qui mô, chất lượng đáp ứng tốt nhu cầu của nhân dân.

Đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội được tỉnh đặc biệt chú trọng, nhất là các công trình, dự án phục vụ sản xuất và đời sống dân sinh như giao thông, thủy lợi, trường học, bệnh viện,… Năm 2011, nhiều công trình quan trọng hoàn thành đưa vào sử dụng đã phát huy tác dụng tốt, như: cầu Thủ Ngữ, cảng cá An Nhơn, trường Trung cấp nghề, bệnh viện đa khoa Minh Đức, bệnh viện đa khoa huyện Bình Đại, các công trình thuộc Chương trình kiên cố hóa trường lớp và nhà công vụ cho giáo viên,... Các công trình giao thông trọng điểm, như: Cầu Bến Tre I, đường tỉnh 883, tuyến tránh thị trấn Giồng Trôm, đường từ cảng Giao Long đến đường Nguyễn Thị Định, đường Cồn Rừng, cầu Cổ Chiên,... trong điều kiện vốn Trung ương phân bổ chậm, đã được tỉnh tập trung chỉ đạo đẩy nhanh tiến độ, phấn đấu hoàn thành đúng kế hoạch bằng việc huy động các nguồn vốn khác của ngân sách địa phương.

Cơ sở hạ tầng giao thông nông thôn được được tiếp tục đầu tư bằng nhiều hình thức, đặc biệt là thực hiện theo phương thức nhà nước và nhân dân cùng làm đạt hiệu quả, được người dân đồng tình, tích cực hưởng ứng.

Song song với phát triển kinh tế, lĩnh vực văn hóa, xã hội cũng có nhiều tiến bộ: Chất lượng giáo dục và đào tạo đạt khá, tỷ lệ tốt nghiệp THPT tăng 5,9% so với năm 2010; chăm sóc sức khoẻ nhân dân ngày càng nâng lên, cơ bản kiểm soát được các dịch bệnh nguy hiểm, không để lan rộng, đồng thời đã đưa một bệnh viện đa khoa (bệnh viện Minh Đức) đầu tư theo hình thức xã hội hóa đi vào hoạt động. Lĩnh vực văn hoá thông tin có nhiều chuyển biến tích cực thông qua thực hiện sâu rộng cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”, kết quả đã công nhận 01 huyện đạt tiêu chí văn hóa, 18 xã, phường, thị trấn và 9.476 hộ gia đình văn hoá. Đến nay, toàn tỉnh có 01 huyện đạt tiêu chí văn hóa, 128/164 xã/phường/thị trấn và 333.327/348.753 hộ gia đình đạt chuẩn văn hóa. Đã tổ chức phục vụ tốt các ngày lễ lớn, các sự kiện chính trị quan trọng diễn ra trên địa bàn.

Trong bối cảnh khó khăn do tác động của lạm phát, bên cạnh ổn định kinh tế vĩ mô, việc đảm bảo an sinh xã hội được tỉnh đạt lên hàng đầu để tập trung chỉ đạo thực hiện và đã thu hút sự tham gia của các tổ chức, cá nhân trong xã hội ngày càng nhiều, với nhiều hoạt động cụ thể, thiết thực như: hỗ trợ xây dựng 4.000 căn nhà ở cho hộ nghèo theo Quyết định 167/QĐ-TTg; cấp 167.309 thẻ BHYT cho hộ nghèo; hỗ trợ 5.477 người cận nghèo tham gia BHYT tự nguyện; miễn, giảm học phí cho 10.182 học sinh; hỗ trợ tiền điện, trợ cấp khó khăn, tập huấn chuyển giao khoa học kĩ thuật cho hộ nghèo,... với tổng kinh phí lên đến hàng chục tỷ đồng. Qua đó, đã góp phần kéo giảm tỷ lệ hộ nghèo toàn tỉnh còn 13%.

Công tác dạy nghề, tư vấn việc làm được duy trì thường xuyên, kết quả đã giải quyết việc làm cho 26.218 lao động, xuất khẩu 349 lao động; đào tạo nghề cho 10.660 lao động nông thôn theo Quyết định 1956/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ. Công tác chăm lo các đối tượng chính sách được quan tâm thực hiện, đạt kết quả khá tốt. Các khiếu nại, tố cáo của công dân được quan tâm chỉ đạo giải quyết; cải cách hành chính đạt kết quả khá; công tác đảm bảo trật tự an toàn xã hội được đẩy mạnh, góp phần kiềm chế được tội phạm và các tai nạn, tệ nạn xã hội, đặc biệt kéo giảm tai nạn giao thông trên cả ba mặt; an ninh quốc phòng được giữ vững.

Trong năm 2011, kinh tế-xã hội của tỉnh đạt được nhiều kết quả quan trọng, tuy nhiên bên cạnh đó vẫn còn nhiều khó khăn, hạn chế như: tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP) và một số chỉ tiêu về kinh tế-xã hội chưa hoàn thành. Trên lĩnh vực sản xuất nông nghiệp việc xây dựng các vùng sản xuất chuyên canh tập trung và phát triển các hình thức liên kết trong sản xuất chưa được hình thành rõ nét. Tiến độ thực hiện một số công trình thủy lợi đầu mối trọng điểm phục vụ sản xuất, đời sống còn quá chậm. Công tác thu hút, kêu gọi đầu tư và GPMB ở Khu công nghiệp Giao Long và An Hiệp để tạo quỹ đất sạch còn chậm. Các vấn đề bức xúc xã hội, giáo dục, y tế như: chất lượng đội ngũ giáo viên có chuyên môn giỏi còn thiếu ở các cấp học; tình trạng quá tải tại các bệnh viện chưa được khắc phục; chất lượng khám và điều trị các đối tượng BHYT ở tuyến cơ sở chậm được cải thiện; an ninh nông thôn một số địa phương chưa được đảm bảo; tai nạn giao thông tuy có giảm nhưng chưa bền vững;...
Dự báo năm 2012 vẫn còn nhiều khó khăn, thách thức đối với nền kinh tế cả nước nói chung và của tỉnh ta nói riêng, nhất là trong tình hình kinh tế thế giới diễn biến phức tạp, khủng hoảng nợ công và lạm phát tăng cao ở nhiều nước. Do đó, tỉnh xác định mục tiêu trọng tâm năm 2012: Tiếp tục tập trung thực hiện các giải pháp kiềm chế lạm phát, duy trì tốc độ tăng trưởng ở mức hợp lý, nâng cao chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế; chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động theo hướng tích cực; đảm bảo an sinh xã hội và cải thiện đời sống nhân dân, giữ vững an ninh quốc phòng, đảm bảo an toàn trật tự xã hội ổn định.

Cụ thể hóa mục tiêu chung thành một số chỉ tiêu chủ yếu như sau: Tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP) năm 2012 tăng khoảng 10%; trong đó: khu vực nông, lâm, thủy sản tăng 5,9%; khu vực công nghiệp-xây dựng tăng 17,9%; khu vực dịch vụ tăng 10,3%; tổng kim ngạch xuất khẩu 440 triệu USD; tổng vốn đầu tư toàn xã hội 11.200 tỷ đồng; thu ngân sách nhà nước 1.250 tỷ đồng; tổng chi ngân sách địa phương 3.099,281 tỷ đồng; tỷ lệ lao động qua đào tạo 45%; tạo việc làm cho 23.000 lao động; xuất khẩu lao động 600 người; giảm tỷ lệ hộ nghèo xuống còn 11%; công nhận mới 15 xã, phường, thị trấn văn hóa,...

Để thực hiện đạt mục tiêu, nhiệm vụ đề ra trong năm 2012, UBND tỉnh sẽ tập trung chỉ đạo tổ chức triển khai thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu sau:

- Tiếp tục thực hiện nghiêm Nghị quyết số 11/NQ-CP ngày 24 tháng 02 năm 2011 của Chính phủ về những giải pháp chủ yếu tập trung kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, đảm bảo an sinh xã hội. Triển khai thực hiện Chỉ thị số 1792/CT-TTg ngày 15/10/2011 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường quản lý đầu tư từ vốn ngân sách nhà nước và vốn trái phiếu Chính phủ;

- Triển khai nhanh các dự án hệ thống thủy lợi nội đồng, đê bao vườn cây ăn trái để ngăn mặn cục bộ trước thời điểm nhiễm mặn xảy ra hàng năm khi hệ thống thủy lợi đầu mối chưa đầu tư khép kín;

- Thường xuyên kiểm tra tình hình dịch bệnh trên cây trồng vật nuôi để kịp thời phát hiện, xử lý khi phát sinh, không để lây lan trên diện rộng; tăng cường công tác quản lý nuôi thủy sản đúng thời vụ, đúng quy hoạch và kiểm soát chặt chẽ giống thủy sản nuôi nhập tỉnh, đảm bảo sạch bệnh, chất lượng cao;

- Tăng cường công tác khuyến nông, hội thảo đầu bờ nhằm hỗ trợ nông dân áp dụng đồng bộ các biện pháp kỹ thuật canh tác, công nghệ bảo quản sản phẩm sau thu hoạch, khuyến khích liên kết giữa nông dân với doanh nghiệp để tổ chức sản xuất theo hợp đồng.

- Triển khai thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ đề ra trong các chương trình, đề án, kế hoạch cụ thể hóa Nghị quyết đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ IX, đặc biệt chú trọng thực hiện đề án nông thôn mới, đề án thu hút đầu tư hạ tầng khu công nghiệp,...

- Ưu tiên bố trí nguồn lực thực hiện ba khâu đột phá chiến lược của tỉnh là phát triển công nghiệp, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và hoàn thiện kết cấu hạ tầng;

- Kịp thời chỉ đạo tháo gỡ khó khăn, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp phát triển sản xuất, kinh doanh và mở rộng thị trường; ban hành chính sách hỗ trợ kinh tế trang trại, làng nghề, sản xuất giống thủy sản như: giống tôm sú, tôm thẻ chân trắng, cá tra, tôm càng.  

- Tiếp tục chăm lo phát triển các lĩnh vực văn hóa xã hội; đẩy mạnh công tác bảo vệ môi trường, nhất là việc khắc phục ô nhiễm môi trường do chăn nuôi gây ra; thực hiện có hiệu quả công tác bảo đảm an sinh xã hội, phát động toàn xã hội chăm lo cho các đối tượng chính sách, tiếp tục vận động kinh phí hỗ trợ cho đối tượng chính sách đang khó khăn về nhà ở; tập trung giải quyết các vấn đề xã hội bức xúc và khiếu nại, tố cáo của công dân; nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý, điều hành và đảm bảo giữ vững ổn định an ninh quốc phòng, trật tự an toàn xã hội.

Năm mới sắp đến, thay mặt Tỉnh ủy, UBND tỉnh, tôi xin thông tin những kết quả đạt được trong năm 2011 và mục tiêu, nhiệm vụ chủ yếu phát triển kinh tế - xã hội năm 2012, đến toàn thể nhân dân tỉnh nhà theo dõi. Tôi tin rằng: Với truyền thống của quê hương Đồng khởi anh hùng, sự nỗ lực phấn đấu hết mình của cả hệ thống chính trị, cùng với sự năng động, sáng tạo trong lao động sản xuất của nhân dân, cộng đồng doanh nghiệp tỉnh nhà, chúng ta sẽ khắc phục khó khăn, thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ năm 2012, góp phần thực hiện thành công kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội 5 năm 2011-2015. Mừng xuân mới Nhâm Thìn, thay mặt lãnh đạo tỉnh, tôi xin thân ái gửi đến toàn Đảng-quân-dân Bến Tre lời thăm hỏi ân cần và chúc một mùa xuân an khang thịnh vượng./.

Nguyễn Văn Hiếu

Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh

 

Các chỉ tiêu kinh tế - xã hội đến năm 2015 được Đại hội biểu quyết thông qua

Email In PDF.

1- Tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP) bình quân 5 năm (2010-2015): 13%/năm. Cơ cấu kinh tế đến năm 2015: khu vực I: 30,3%; khu vực II: 27,4%’ khu vực III: 42,3%.
2- Đến năm 2015, GDP bình quân đầu người đạt 1.600 USD (tương đương 36 triệu đồng/năm).

3- Kim ngạch xuất khẩu đạt trên 1.900 triệu USD, tăng bình quân 20%/năm.
4- Tổng vốn đầu tư toàn xã hội 70.000 tỷ đồng, chiếm 42,6% GDP, tăng bình quân 15,5%/năm.
5- Thu ngân sách nhà nước trên địa bàn tăng bình quân trên 12,5%/năm.
6- Đầu tư xây dựng 1 khu trung tâm hội nghị của tỉnh.
7- Củng cố, nâng chất các hợp tác xã hiện có; phát triển mới 50 hợp tác xã.
8- Tỷ lệ vốn đầu tư toàn xã hội cho khoa học công nghệ đạt mức 1,5% GDP.
9- Đến năm 2015, tỷ lệ hộ sử dụng điện đạt 99%. Có 95% dân cư đô thị sử dụng nước sạch; trên 90% dân cư nông thôn sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh, trong đó có 50% dân cư nông thôn được sử dụng nước sạch.
10- Xây dựng một hệ thống xử lý nước thải sinh hoạt tập trung tại thành phố Bến Tre, 3 trạm tại các huyện: Mỏ Cày Nam, Ba Tri và Bình Đại. Thu gom và xử lý 80% rác thải sinh hoạt tại khu vực đô thị, 100% rác thải bệnh viện, 70% rác thải tại các khu công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp.
11- Tiếp tục thực hiện phổ cập giáo dục trung học. Đến năm 2015, tỉnh có 200 sinh viên/1 vạn dân. Cơ bản hoàn thành Đề án đào tạo cán bộ sau đại học với số lượng cán bộ phù hợp và chuyên ngành phù hợp. Phấn đấu đưa vào hoạt động Trường Đại học Hàng hải, nâng cấp Trường Cao đẳng Bến Tre thành trường đại học vào cuối nhiệm kỳ.
12- Có 100% xã đạt chuẩn quốc gia về y tế; 90% dân số có bảo hiểm y tế. Đạt tối thiểu 29,66 giường/1 vạn dân; 7,15 bác sĩ/1 vạn dân; tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng dưới 5 tuổi là 14%. Tốc độ tăng dân số tự nhiên dưới 1%/năm.
13- Xây dựng 2 huyện và thành phố Bến Tre đạt tiêu chí văn hóa.
14- Phấn đấu đến cuối nhiệm kỳ, các xã cơ bản hoàn thành các tiêu chí về xây dựng xã nông thôn mới.
15- Tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 50%. Giải quyết việc làm cho 114.500 lao động. Xuất khẩu lao động trên 3.000 lao động. Tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn mới giảm bình quân 2%/năm, đến cuối nhiệm kỳ còn dưới 7%. Giảm tỷ lệ lao động thất nghiệp xuống còn dưới 4%.
16- Đảm bảo ổn định an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội trên địa bàn; chủ động phòng, chống, hạn chế đến mức thấp nhất phạm pháp hình sự, tệ nạn xã hội, tai nạn giao thông. Tập trung giải quyết khiếu kiện của công dân, không để xảy ra điểm nóng, khiếu kiện đông người, vượt cấp, các vụ khiếu kiện kéo dài.
17- Xây dựng hệ thống chính trị thật sự trong sạch vững mạnh; bộ máy Nhà nước năng động, hiệu lực, hiệu quả; phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể, đổi mới công tác vận động quần chúng, tạo sự nhất trí và đồng thuận cao trong nhân dân.
18- Có 87% tổ chức cơ sở đảng trong sạch vững mạnh. Phát triển 11.000 đảng viên mới, tỷ lệ đảng viên toàn tỉnh đạt 4% so dân số.

 Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ IX (http://www.baodongkhoi.com.vn/?act=detail&id=16095)

 

Một số số liệu kinh tế-xã hội tỉnh Bến Tre năm 2008

Email In PDF.

Một số số liệu kinh tế-xã hội tỉnh Bến Tre năm 2008

File đính kèm:
Download this file (So lieu KTXH Ben Tre 2008.pdf)So lieu KTXH Ben Tre 2008.pdf[ ]80 Kb
 
Trang 4 của 5

Danh mục

Đăng nhập