Sở Giáo dục và Đào Tạo Bến Tre

Lịch sử, Địa lý, Ngữ văn địa phương

Mãi mãi âm vang huyền thoại quê hương Đồng Khởi

Email In PDF.

Người viết: Hoàng Chương

(Bentre.gov.vn)-Địa hình Bến Tre nhưvùng đất đảo, nhưng không phải nằm lẻ loi, heo hút nơi góc biển chân trời xa xôi nào đó, mà án ngữ giữa các con sông lớn với nhiều cồn bãi, sông rạch chằng chịt cùng với 65km bờ biển cũng như các cửa sông lớn nên rất thuận lợi giao thông đường thủy chiến lược với các miền đất. Và như mạch suối ngầm âm thầm ngày đêm miệt mài chảy trong lòng đất từ thuở các bậc tiền nhân vượt qua trăm cay nghìn đắng, để chinh phục khó khăn biến vùng đất rừng rậm hoang vu nê trầm thủy địa thành tỉnh Bến Tre trù phú.

Với vị trí địa lý mà sử sách ghi lại là đất cù lao có địa hình đắc địa hiểm trở, mảnh đất ba dải cù lao xứ dừa Bến Tre trở thành căn cứ địa cách mạng vững chắc, là nơi sinh ra, nuôi dưỡng và che chở cho hàng ngàn chiến sĩ cách mạng. Và với truyền thống yêu nước bất khuất của người Bến Tre được các thế hệ bền bỉ nối tiếp nhau kế thừa một cách xuất sắc, từ buổi đầu chống quân xâm lược, qua thời thành lập Đảng, rồi thời kỳ kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ. Đặc biệt nhất là dưới sự lãnhđạo của Tỉnh ủy Bến Tre thời chống Mỹ, hàng vạn đồng bào đã đoàn kết, chung lòng, sáng tạo với sự kết hợp phương châm “hai chân, ba mũi giáp công”, làm nên cuộc Đồng Khởi long trời lở đất trên quê hương Bến Tre vào ngày 17/1/1960. Cao trào Đồng Khởi tại ba xã (Định Thủy, Bình Khánh, Phước Hiệp - huyện Mỏ Cày), Bến Tre bùng lên thành ngọn lửa, thành phong trào lan rộng ra cả huyện, cả tỉnh, cả miền Nam, làm thay đổi cục diện ở miền Nam, phá vỡ một mảng lớn hệ thống chính quyền cơ sở của địch.

Có thể nói, cuộc Đồng Khởi thần kỳ trên đất xứ dừa Bến Tre năm 1960, đã diễn ra vô cùng oai hùng, quật khởi, phá rã chính quyền, tề ngụy tại cơ sở, làm kẻ thù khiếp sợ, nhụt khí và báo hiệu sự sụp đổ của chế độ Mỹ - Diệm. Đến nay những người trong cuộc, những nhân chứng lịch sử, những thế hệ hôm nay và cả mai sau có lẽ cũng chưa hiểu được hết: “Vì sao với bộ máy ngụy quyền, với một quân đội, một mạng lưới mật vụ hùng hậu đàn áp vô cùng dã man, tàn bạo và thâm độc, lại được Mỹ điều khiển, mà chỉ có 162 đảng viên Cộng sản lãnh đạo nhân dân - đúng nghĩa từ toàn dân trong tỉnh nổi dậy từ tay không Đồng Khởi diệt ác, phá kìm, giành chính quyền làm chủ, lại đánh bại cuộc hành quân phản kích của 10.000 quân, bảo toàn lực lượng, giải phóng phần lớn nông thôn?”. Sự thật Đồng Khởi ở Bến Tre là rất vĩ đại, rất kỳ diệu, thần kỳ, như huyền thoại và cũng rất đại chúng, do quần chúng làm lại rất lạ, rất hay, rất tài giỏi. Nếu không phải là người cách mạng, không phải là người Cộng sản thì không làm sao làm được! Và phong trào Đồng Khởi Bến Tre đã đi vào lịch sử truyền thống cách mạng Việt Nam, mãi luôn âm vang cả nước; mãi mãi là niềm tự hào và trở thành ngày hội truyền thống cách mạng vẻ vang của người dân ba dải cù lao xứ dừa Bến Tre.

Đến nay, đã 53 năm quađi, nhưng phong trào Đồng Khởi hay huyền thoại “Bến Tre quê hương Đồng Khởi” đãđược nhân dân cả nước và một số nước trên thế giới biết đến. Đó là niềm tự hào bất hủ của các thế hệ người dân xứ dừa và huyền thoại của Đồng Khởi Bến Tre được các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước và Quân đội đã viết và nói về cuộc Đồng Khởi Bến Tre như:

- “… nhân dân miền Nam đã vùng lên như triều dâng thác đổ, đã chuyển sang thế tiến công với phong trào "Đồng Khởi" mở đầu từ Bến Tre, thành lập Mặt trận dân tộc giải phóngđể lãnh đạo cuộc đấu tranh cho đến thắng lợi hoàn toàn. Bước đầu vào đầu những năm sáu mươi, cuộc đấu tranh kiên cường của nhân dân ta nhằm đánh đổ chính quyền tay sai Mỹ và thống nhất đất nước đã khiến bọn xâm lược Mỹ phải thú nhận: "Việt Nam là nơi duy nhất trên thế giới mà chính quyền Mỹ phải đương đầu với một cố gắng phát triển rất tốt của Cộng sản nhằm lật đổ một chính phủ thân phương Tây" (Trích "Nước Việt Nam là một dân tộc Việt Nam". Ủy ban Khoa học xã hội Việt Nam- Viện sử học - Nxb Khoa học xã hội - 1976).

- Thư của đồng chí Lê Duẩn - Cố Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương gửi đồng chí Mười Cúc về phong trào “Đồng Khởi”: “... Dưới ánh sáng của Nghị quyết Hội nghị lần thứ 15 của Trung ương, cuối năm 1959 đầu năm 1960 nhân dân ta ở miền Nam đã vùng lên lên khởi nghĩa đồng loạt…

Cuối năm 1959 tại nhiều nơi ở Nam Bộ, quần chúng đã vùng lên diệt ác, phá kìm, khiến cho bộ máy tề ngụy ở hàng trăm thôn, xã phải tan vỡ. Đặc biệt, đêm 17/1/1960, dưới sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Bến Tre, nhân dân huyện Mỏ Cày đã nổi dậy khởi nghĩa đồng loạt mở đầu cho một cao trào mới. Từ đó làn sóng "Đồng Khởi" như nước vỡ bờ tràn lan ra toàn tỉnh Bến Tre và khắp các tỉnh ở Nam Bộ, Tây Nguyên, Trung Trung Bộ....Trong phong trào nổi dậy của quần chúng, các lực lượng vũ trang cách mạngđã ra đời và phát triển.… Thắng lợi của phong trào “Đồng Khởi” là bước ngoặt có ý nghĩa chiến lược, làm thay đổi cục diện cách mạng miền Nam, là thất bại lớnđầu tiên của chủ nghĩa thực dân mới của Mỹ ở miền Nam nước ta. Chính trong cao trào cách mạng đó, ngày 20/12/1960, Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam ra đời..." (Thư vào Nam của đồng chí Lê Duẩn - Nxb Sự thật - Hà Nội, 1995).

- Cố Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Nguyễn Văn Linh đã đánh giá cao sự sáng tạo, dám nghĩ, dám làm khi vận dụng Nghị quyết 15 của Trung ương Đảng của Tỉnh ủy và nhân dân Bến Tre trong phong trào Đồng Khởi tại địa phương và những bài học kinh nghiệm từ Đồng Khởi Bến Tre năm 1960:

“... Sau cái tết đầu năm 1960, ta đưa phong trào nổi dậy ở nhiều nơi trong đó có Bến Tre. Lúc bấy giờ Xứ ủy chúng tôi rất vui mừng mà nói, băn khoăn thì bây giờ Bến Tre đã tìm ra được cái phương thức này đây! Lập tức chúng tôi đem cái kinh nghiệm này phổbiến chỉ đạo cho các nơi áp dụng để làm. Và sau đó mới có cái từ là Đồng Khởi. Và qua Đồng Khởi mà xây dựng ba lực lượng: lực lượng quân sự, lực lượng chính trị và lực lượng binh vận; ba mũi giáp công, mà không phải giáp công rời rạc nhau, mà giáp công ngay ở trong một cuộc đấu tranh, ba mũi giáp công ngay từmột người quần chúng. Đó là cái đặc biệt! Đây là cái thế mạnh! Thế mạnh tổng hợp mà chính từ cái thế mạnh tổng hợp đó nó phát triển lên thì nó sẽ thành ra là nổi tiếng dậy từng phần, kết hợp ba mũi giáp công và tiến lên tổng công kích, tổng khởi nghĩa. Chính trung ương về sau này nêu vấn đế tổng công kích, tổng khởi nghĩa trên cơ sở ba mũi giáp công này, cũng là trên cơ sở kinh nghiệm thực tiễn của phong trào, mà trong đó cái phần đóng góp của Bến Tre là rất quan trọng..." (Bản chép từ băng ghi âm lưu ở kho lưu trữ của Văn phòng Tỉnh ủy Bến Tre ngày 17/7/1982).

- Trong bài Tổng kết của đồng chí Hoàng Văn Thái - Ủy viên Thường trực Quân ủy Trung ương, Thứtrưởng Bộ Quốc phòng tại Hội nghị tổng kết cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước tỉnh Bến Tre từ ngày 12 đến 17/7/1982, có đoạn viết như sau: “Đồng Khởi Bến Tre năm 1960 là một mô hình hoàn chỉnh của khởi nghĩa toàn dân, của khởi nghĩa ởnông thôn đồng bằng. Nó thúc đẩy toàn Nam Bộ nổi dậy chống Mỹ, cứu nước với khí thế long trời lở đất. Vì vậy, Bến Tre là quê hương của Đồng Khởi theo đúng nghĩa của Đồng Khởi".

Di tích Đồng Khởi Bến Tre tại xã Định Thủy - Mỏ Cày Nam, là một trong ba xã điểm làm nên cuộc Đồng Khởi năm 1960. (Ảnh: H.C)

- Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng viết về Đồng Khởi Bến Tre: “... Giữa tháng 1 năm 1960, cuộc khởi nghĩađồng loạt nổ ra tại ba huyện Minh Tân, Mỏ Cày, Thạnh Phú làm cho bộ máy kìm kẹp của địch bị tan rã, nhiều xã được hoàn toàn giải phóng. Qua cuộc Đồng Khởi này, trung đội giải phóng quân đầu tiên của Bến Tre đã đảm đương nhiệm vụ cùng nhân dân đẩy mạnh đấu tranh chính trị và quân sự, tiến hành cuộc chiến tranh nhân dân, bảo vệ quyền làm chủ, phát huy những thắng lợi đã giành được"… (trích "Những chặng đường thắng lợi vẻ vang" - Nxb Sự thật, Hà Nội, 1985).

- Đại tướng Võ Nguyên Giáp nói về cuộc Đồng Khởi nổi tiếng ở Bến Tre: “... Theo tôi biết chị Ba Định cùng nhân dân và Đảng bộ Bến Tre đấu tranh trong những năm ác liệt nhất, chịkiên cường bất khuất, là người phụ nữ đã tham gia lãnh đạo cuộc Đồng Khởi nổi tiếng ở Bến Tre. Cũng trong thời gian đó hình thành sự đấu tranh rất sáng tạo, rất mới là trước sự khủng bố ác liệt như vậy, mà có thể nói hình thành được đội quân tóc dài, kết hợp chính trị, quân sự, binh vận làm thất bại âm mưu củađịch, bảo vệ tính mạng, tài sản, quyền lợi của nhân dân ta. Nhắc đến việc làmđó mình cũng thấy rằng như vậy là có thể địch cắm đồn bót nơi này nơi kia nhưng mà lòng dân là theo Cụ Hồ. Cho nên đây là một hình thức, là một nghệ thuật vậnđộng toàn dân, mà đây là đàn ông, mà đây là phụ nữ, trẻ con, tất cả đều tham gia cả, những hình thức này có thể là độc đáo...” (trích trong phim tư liệu Bến Tre Đồng Khởi).

- Trích thư của nguyên Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu gửi đến toàn thể đồng bào và Đảng bộ tỉnh Bến Tre vào ngày 16/1/2000 nhân kỷ niệm 40 năm Đồng Khởi: “… Trong 2 năm 1959 – 1960, nhân dân miền Nam đã bất ngờ vùng dậy, 6 triệu rưỡi dân của 1.000 xã ở Nam Bộ, 4.400 thôn ở Khu 5 đã giành được quyền làm chủ dưới các mức độ khác nhau… Trong công cuộc Đồng Khởi vĩ đại ấy, nhân dân và Đảng bộ Bến Tre là một trong những lá cờ đầu anh dũng nhất, quyết liệt nhất, mưu trí nhất, sáng tạo nhất, với đội quân tóc dài anh hùng, với lực lượng tại chỗ góp phần tạo ra một bước ngoặt chiến lược, đưa cách mạng miền Nam từ thoái trào, từ thế gìn giữ lực lượng chuyển hẳn sang thế tiến công chiến lược, làm rung chuyển và báo hiệu sự sụp đổ của chế độthống trị của Mỹ - ngụy…”.

- Cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt viết về Đồng Khởi Bến Tre: “… Sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước thiêng liêng của chúng ta là sự nghiệp anh hùng của một dân tộc anh hùng. Có thể nói trên cả nước ta, địa phương nào cũng anh hùng, mỗi đơn một vẻ, có những chiến công chung và có những chiến công riêng tiêu biểu cho địa phương mình rấtđáng trân trọng.

Người trong cuộc, tôi xin được khẳng định chiến công chống chính quyền ngụy tay sai của Mỹ, tiêu biểu khởi đầu là phong trào Đồng Khởi của nhân dân và các chiến sĩ kiên trung của Bến Tre, đặc biệt là của các chị em được mệnh danh là “Đội quân tóc dài”, những người đã anh dũng vùng lên, cùng nhau nổi dậy thành một phong trào đấu tranh chính trị kết hợp vũ trang, phá thế kềm kịp, làm thay đổi cục diện trên địa bàn lúc bấy giờ. Trong đó miền Nam nhiều nơi cũng có phong trào tương tự nhưng về quy mô thì chưa có nơi nào nhưBến Tre (ít nhất cũng riêng của Nam Bộ). Sự Đồng Khởi ở Bến Tre đã có tác dụng cổ vũ mạnh mẽ phong trào nhân dân nổi dậy đấu tranh nhiều địa phương khác ở Nam Bộ. Tôi có vinh dự lớn lúc đó là “người trong cuộc” và có điều kiện theo dõi bước phát triển quan trọng này trong quá trình kháng chiến của Bến Tre đã được chứng minh trong nhiều văn kiện của Đảng và những tác phẩm văn học nghệ thuật ghi nhận là “Quê hương Đồng Khởi”, Đảng bộ và nhân dân tỉnh Bến Tre có quyền tựhào về điều này…” (ngày 16/6/1995).

- Cố Thượng tướng Trần Văn Trà nói về Đồng Khởi Bến Tre: “… Cuộc Đồng Khởi 1959 – 1960 ở Nam Bộlà một giai đoạn chiến lược vô cùng quan trọng, một chuyển biến về chiến lược của cả cuộc cách mạng. Cho nên đây là mốc chiến lược đầu tiên mà ta vượt qua những khó khăn để đi lên thế ổn định. Thế thì không chỉ Bến Tre làm đồng khởi đâu, nhiều tỉnh cũng làm đồng khởi, có khi có nơi làm đồng khởi trước nữa kia. Nhưng mà Bến Tre tiêu biểu hơn ở chỗ là cuộc Đồng Khởi Bến Tre thật sự là một cuộcđồng khởi, một cuộc khởi nghĩa có nhân dân rõ ràng. Có nhân dân, tuy rằng vũ trang không có bao nhiêu, nhưng nó rất tiêu biểu ở cái chỗ huy động được toàn dânđứng lên cướp chính quyền từ một số xã rồi mới lan rộng ra các huyện cả tỉnh…”(trích trong phim tư liệu “Bến Tre Đồng Khởi”).

- Nhà sử học – cốGiáo sư Trần Văn Giàu viết: “… Kỳ công của Bến Tre mà lịch sử hiện nay và trăm năm sau đã và sẽ khắc trên bản đồng, là cuộc Đồng Khởi năm 1960 mở đầu một cao trào vũ trang đấu tranh dài 15 năm đi đến toàn thắng của kháng chiến chống Mỹ.Tôi biết có nhiều nơi “tranh chấp” (trong số các nhà viết sử thôi) cái danh hiệu Đồng Khởi. Là một người chép sử, tôi nhận xét rằng ở mấy nơi miền Trung và miền Nam hồi đó ngay cả trước năm 1960 nữa, quả có những cuộc vũ trang đấu tranh giành quyền làm chủ, nhưng Đồng Khởi (với tên gọi của phong trào) như là cuộc nổi dậy mang tính quần chúng, cuộc nổi dậy có tác động lâu dài, rộng lớn và đưa lại nhiều bài học kinh nghiệm rất cơ bản, là thành tích của đồng bào Bến Tre, Mỏ Cày – đại biểu xứng đáng cho cuộc quật khởi chung trên toàn bộ đồng bằng sông Cửu Long. Không phải vô cớ mà Bến Tre, Mỏ Cày cũng là cái nôi sản sinh những chiến sĩ cách mạng độc đáo như tản cư ngược, như đạo quân tóc dài,…đều là những sản phẩm trực tiếp của Đồng Khởi cả…” (Báo Đồng Khởi thứ bảy sốXuân 1989).

Giờ đây, lật lại những trang sử vàng của quê hương, ta càng khẳng định những kỳ tích của Bến Tre trong cuộc Đồng Khởi năm 1960 là một kỳ công độc đáo, khi được lĩnh hội Nghịquyết 15 của Trung ương kết hợp với nghệ thuật lãnh đạo sáng tạo, mưu trí của các đồng chí lãnh đạo Tỉnh ủy Bến Tre thời bấy giờ với phương châm đấu tranh“hai chân, ba mũi giáp công” đã cùng với đồng Bến Tre làm nên phong trào Đồng Khởi long trời lở đất. Ngọn đuốc Đồng Khởi thời hoa lửa đó sẽ mãi mãi chiếu sáng, vang vọng đến muôn đời sau và sẽ luôn là niềm tự hào của các thế hệ người dân Bến Tre.

Tiếp bước truyền thống anh dũng, đồng khởi, thắng Mỹ, diệt ngụy lớp lớp các thế hệ cha, anh chúng tôi đã viết nên những trang sử vàng cho quê hương xứ dừa Bến Tre từ bộ đội ông Cống, đến sự ra đời của tiểu đoàn 307 rồi tiểu đoàn 516 anh hùng, với những chiến công oanh liệt làm rạng danh quê hương Đồng Khởi anh hùng. Các thếhệ người dân Bến Tre xem đó là hành trang và luôn mang trong mình truyền thống oai hùng của cha anh. Càng tự hào quê hương mình bao nhiêu chúng tôi càng ra sức học tập, lao động, sáng tạo làm theo gương các thế hệ đi trước. Và giờ đây trong cuộc vận động học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, chúng tôi càng thấy rõ hơn vai trò, trách nhiệm của mình, cần phấn đấu nhiều hơn nữa, cống hiến nhiều hơn nữa, xứng đáng nhiều hơn nữa với những mất mát, hy sinh của các đấng tiền nhân để góp phần tích cực xây dựng quê hương xứ dừa Đồng Khởi anh hùng. Hiện tại giờ đây chúng ta hãy cùng tuyên truyền, vận động mọi tầng lớp nhân dân Bến Tre cùng đồng tâm, đồng lòng tiếp tục xây dựng quê hương giàu mạnh, mạnh, nhất là xây dựng thành công xã nông thôn mới trên quê hương Bến TreĐồng Khởi anh hùng. Chúng ta có thể xem đó là tiếp tục nhiệm vụ cuộc “Đồng Khởi mới” và để mãi mãi những người con của Bến Tre luôn tự hào dáng đứng quê hương mình.

(Tham khảo tài liệu“Huyền thoại quê hương Đồng Khởi” – NXB QĐND 2008)

 

 

 

 

 

Về lại làng nghề truyền thống bánh phồng Phú Ngãi (Ba Tri)

Email In PDF.

(Bentre.gov.vn)-Trong những ngày cuối năm, chúng tôi có dịp về thăm lại làng nghề truyền thống sản xuất bánh phồng Phú Ngãi (Ba Tri) và cảm nhận được niềm vui của người dân nơi đây.

Xã Phú Ngãi, Ba Tri, có kinh tế chủ yếu là sản xuất nông nghiệp, với 750ha. Từ lâu, tranh thủ thời gian nhàn rỗi, tận dụng nguồn nguyên liệu nếp sẵn có của địa phương, cộng với một số phụ phẩm khác như dừa, đường, người dân ở Phú Ngãi đã sản xuất bánh phồng để cung cấp cho bà con ở địa phương dùng cúng tổ tiên, ông bà trong những ngày tết.

Thuở ấy, do sản xuất số lượng ít nên chỉ có một vài hộ làm bánh phồng. Dần dần do nhu cầu tiêu thụ ngày càng cao và có thu nhập khá nên nhiều hộ mạnh dạn đầu tư nghề này. Đến nay Phú Ngãi có 56 hộ sản xuất bánh phồng với trên 250 lao động tham gia.

Để tăng năng suất, chất lượng, đạt hiệu quả cao, người dân luôn đúc kết kinh nghiệm trong sản xuất, mạnh dạn đầu tư cải tiến phương tiện. Nếu như trước đây bà con dùng lá chuối để lót bánh, ống tre để cán thì bây giờ được lót nhựa và cán bằng ống nhựa. Đặc biệt là trang bị máy quếch bánh bằng điện thay cho sức người.

Đến nay, tất cả các hộ đều sử dụng phương tiện này, với kinh phí mỗi máy 15 triệu đồng. Sử dụng máy quếch này mỗi ổ bánh rút gắn thời gian từ 20 phút còn 15 phút, giảm công lao động 2 người so với làm thủ công.

Nhờ sản xuất có chất lượng, được ưa chuộng nên hiện nay bánh phồng của người dân ở Phú Ngãi được thương lái đến tận nơi đặt mua, không còn phải mang đi bán như trước.

Do lượng tiêu thụ ngày càng tăng nên hiện nay người dân ở Phú Ngãi sản xuất bánh phồng quanh năm. Từ đó giải quyết việc làm, tạo thu nhập không nhỏ cho nhiều lao động.

Năm 2011, các hộ ở Phú Ngãi đã sản xuất được trên 6.880 thiên bánh phồng, doanh thu hơn 11 tỷ đồng. Thu nhập bình quân đầu người 19 triệu đồng/năm.

Gia đình anh Nguyễn Văn Bé Tư sinh năm 1963, ở ấp Phú Thuận chỉ với 3 lao động bình quân mỗi ngày sản xuất được 8 ổ bánh, mỗi ổ 100 cái bánh. Hiện nay giá bán mỗi ổ bánh 130.000 đồng, sau khi trừ chi phí còn lãi 40.000 đồng.

Làm thế nào để duy trì và phát triển nghề sản xuất bánh phồng của mình, anh Nguyễn Văn Bé Tư cho biết: “Phải sản xuất ra sản phẩm có chất lượng cao. Để cho bánh có chất lượng khi làm phải chọn nếp thuần, đường, dừa có chất lượng. Khi nếp nấu xong, trước khi cán phải trộn men để khi nướng bánh được chùi (nở to, bóng). Khi có chất lượng, người tiêu dùng ưa chuộng, thương lái sẽ đến đặt mua nhiều. Từ đó tôi mới sản xuất bánh nhiều hơn, cung cấp cho nhiều nơi” .

Không chỉ thế mà người dân còn rất ý thức trong việc giữ gìn vệ sinh môi trường. Nếu như trước đây nguồn nước thải của nguyên liệu làm bánh đổ ra bên ngoài thì giờ đây người dân sử dụng làm nước uống cho gia súc. Từ đó hạn chế được tình trạng ô nhiễm môi trường.

Từ kết quả này, năm 2007 nghề sản xuất bánh phồng của người dân ở Phú Ngãi được công nhận làng nghề truyền thống.

Ông Huỳnh Văn Lâm - Trưởng ban đại diện làng nghề truyền thống sản xuất bánh phồng Phú Ngãi nói: “Sắp tới, chúng tôi sẽ vận động bà con sản xuất bánh phồng có chất lượng cao, đồng thời giữ gìn vệ sinh môi trường để không ảnh hưởng đến chất lượng bánh. Bên cạnh đó, đề nghị các ngành chức năng sớm công nhận thương hiệu sản phẩm để bánh phồng của địa phương dễ dàng tìm đầu ra. Ngoài ra, mong Nhà nước hỗ trợ vốn cho các hộ nơi đây để trang bị phương tiện mới, hiện đại, nguyên liệu phục vụ cho sản xuất, nhất là trong dịp tết cổ truyền”.

Tuy hoạt động không quy mô như làng nghề truyền thống sản xuất bánh phồng Sơn Đốc ở huyện Giồng Trôm, nhưng làng nghề sản xuất bánh phồng ở Phú Ngãi, Ba Tri cũng tạo ra được một sản phẩm bánh từ sự cần mẫn, thiết tha để chuyển hương vị của quê hương đến nhiều nơi trong và ngoài tỉnh đồng thời mang về thu nhập không nhỏ cho người dân địa phương. 

Trong những ngày cuối năm, chúng tôi có dịp về thăm lại làng nghề truyền thống sản xuất bánh phồng Phú Ngãi (Ba Tri) và cảm nhận được niềm vui của người dân nơi đây.

Xã Phú Ngãi, Ba Tri, có kinh tế chủ yếu là sản xuất nông nghiệp, với 750ha. Từ lâu, tranh thủ thời gian nhàn rỗi, tận dụng nguồn nguyên liệu nếp sẵn có của địa phương, cộng với một số phụ phẩm khác như dừa, đường, người dân ở Phú Ngãi đã sản xuất bánh phồng để cung cấp cho bà con ở địa phương dùng cúng tổ tiên, ông bà trong những ngày tết.

Thuở ấy, do sản xuất số lượng ít nên chỉ có một vài hộ làm bánh phồng. Dần dần do nhu cầu tiêu thụ ngày càng cao và có thu nhập khá nên nhiều hộ mạnh dạn đầu tư nghề này. Đến nay Phú Ngãi có 56 hộ sản xuất bánh phồng với trên 250 lao động tham gia.

Để tăng năng suất, chất lượng, đạt hiệu quả cao, người dân luôn đúc kết kinh nghiệm trong sản xuất, mạnh dạn đầu tư cải tiến phương tiện. Nếu như trước đây bà con dùng lá chuối để lót bánh, ống tre để cán thì bây giờ được lót nhựa và cán bằng ống nhựa. Đặc biệt là trang bị máy quếch bánh bằng điện thay cho sức người.

Đến nay, tất cả các hộ đều sử dụng phương tiện này, với kinh phí mỗi máy 15 triệu đồng. Sử dụng máy quếch này mỗi ổ bánh rút gắn thời gian từ 20 phút còn 15 phút, giảm công lao động 2 người so với làm thủ công.

Nhờ sản xuất có chất lượng, được ưa chuộng nên hiện nay bánh phồng của người dân ở Phú Ngãi được thương lái đến tận nơi đặt mua, không còn phải mang đi bán như trước.

Do lượng tiêu thụ ngày càng tăng nên hiện nay người dân ở Phú Ngãi sản xuất bánh phồng quanh năm. Từ đó giải quyết việc làm, tạo thu nhập không nhỏ cho nhiều lao động.

Năm 2011, các hộ ở Phú Ngãi đã sản xuất được trên 6.880 thiên bánh phồng, doanh thu hơn 11 tỷ đồng. Thu nhập bình quân đầu người 19 triệu đồng/năm.

Gia đình anh Nguyễn Văn Bé Tư sinh năm 1963, ở ấp Phú Thuận chỉ với 3 lao động bình quân mỗi ngày sản xuất được 8 ổ bánh, mỗi ổ 100 cái bánh. Hiện nay giá bán mỗi ổ bánh 130.000 đồng, sau khi trừ chi phí còn lãi 40.000 đồng.

Làm thế nào để duy trì và phát triển nghề sản xuất bánh phồng của mình, anh Nguyễn Văn Bé Tư cho biết: “Phải sản xuất ra sản phẩm có chất lượng cao. Để cho bánh có chất lượng khi làm phải chọn nếp thuần, đường, dừa có chất lượng. Khi nếp nấu xong, trước khi cán phải trộn men để khi nướng bánh được chùi (nở to, bóng). Khi có chất lượng, người tiêu dùng ưa chuộng, thương lái sẽ đến đặt mua nhiều. Từ đó tôi mới sản xuất bánh nhiều hơn, cung cấp cho nhiều nơi” .

Không chỉ thế mà người dân còn rất ý thức trong việc giữ gìn vệ sinh môi trường. Nếu như trước đây nguồn nước thải của nguyên liệu làm bánh đổ ra bên ngoài thì giờ đây người dân sử dụng làm nước uống cho gia súc. Từ đó hạn chế được tình trạng ô nhiễm môi trường.

Từ kết quả này, năm 2007 nghề sản xuất bánh phồng của người dân ở Phú Ngãi được công nhận làng nghề truyền thống.

Ông Huỳnh Văn Lâm - Trưởng ban đại diện làng nghề truyền thống sản xuất bánh phồng Phú Ngãi nói: “Sắp tới, chúng tôi sẽ vận động bà con sản xuất bánh phồng có chất lượng cao, đồng thời giữ gìn vệ sinh môi trường để không ảnh hưởng đến chất lượng bánh. Bên cạnh đó, đề nghị các ngành chức năng sớm công nhận thương hiệu sản phẩm để bánh phồng của địa phương dễ dàng tìm đầu ra. Ngoài ra, mong Nhà nước hỗ trợ vốn cho các hộ nơi đây để trang bị phương tiện mới, hiện đại, nguyên liệu phục vụ cho sản xuất, nhất là trong dịp tết cổ truyền”.

Tuy hoạt động không quy mô như làng nghề truyền thống sản xuất bánh phồng Sơn Đốc ở huyện Giồng Trôm, nhưng làng nghề sản xuất bánh phồng ở Phú Ngãi, Ba Tri cũng tạo ra được một sản phẩm bánh từ sự cần mẫn, thiết tha để chuyển hương vị của quê hương đến nhiều nơi trong và ngoài tỉnh đồng thời mang về thu nhập không nhỏ cho người dân địa phương.

Người viết: Trần Xiện    

 

Tổ chức lễ an vị tượng cụ Trần Văn Kiết

Email In PDF.

(Đồng Khởi Online)-Ngày 20-11-2012, Trường THPT Trần Văn Kiết (Chợ Lách) long trọng tổ chức lễ an vị tượng nhà trí thức yêu nước Trần Văn Kiết và kỷ niệm Ngày Nhà giáo Việt Nam.

Tượng cụ Trần Văn Kiết được đúc bằng đồng, dạng bán thân, cao 90cm, nặng 400kg, kinh phí trên 71 triệu đồng; bệ tượng cao khoảng 2,5m, dạng hình khối, lớn dần từ trên xuống, phần nền lát bằng các loại đá tạo thành ngũ sắc, tổng kinh phí xây dựng bệ tượng và khu vực xung quanh là trên 130 triệu đồng do các tổ chức, cá nhân đóng góp.

Cụ Trần Văn Kiết sinh năm 1911 và mất năm 1943 trong gia đình phú hộ, được giáo dục ở trong và ngoài nước, sớm giác ngộ, tham gia, cống hiến cho chủ nghĩa cộng sản quốc tế và phong trào cách mạng trong nước. Cụ đã cùng Việt kiều tại Pháp biểu tình đòi nhà cầm quyền phải ngưng đàn áp cuộc khởi nghĩa Yên Bái; được Đảng giao phụ trách 2 tờ báo cách mạng. Ngày 7-3-1939, cụ bị mật thám Pháp bắt tại tòa soạn và bị thực dân Pháp áp đặt mức án 1 năm tù giam. Năm 1943, cụ bị thực dân Pháp bắt tại Chợ Lớn. Sau khi mua chuộc, dụ dỗ, tra tấn… biết không lay chuyển được ý chí của người trí thức yêu nước Trần Văn Kiết, thực dân Pháp đã thủ tiêu cụ. Khi đó, cụ 32 tuổi, chưa lập gia đình.

Dịp này, UBND huyện Chợ Lách khen thưởng 2 tập thể và 1 cá nhân đã có nhiều đóng góp xây dựng tượng đài cụ Trần Văn Kiết.

Ngọc Lãm

 

Ấn tượng xứ dừa

Email In PDF.

(iHay) Suốt một thời gian dài, Bến Tre dường như tách biệt với đất liền. Mãi đến năm 2009, khi cầu Rạch Miễu xây xong rồi đến cầu Hàm Luông hoàn thành đã chấm dứt sự “cô lập” này và mang lại luồng gió mới cho Bến Tre, nhất là ngành du lịch.

Tràn ngập… kẹo

Vừa qua cầu Rạch Miễu, cảm giác mát lành ùa vào xe và sự lâng lâng khó tránh trong lòng du khách bởi cảnh quan bát ngát mở rộng trước mặt. Đó là hình ảnh của “tứ linh” với 4 cồn nổi trên sông: Long, Lân, Quy, Phụng. Đây là khu vực giáp ranh giữa Tiền Giang và Bến Tre: cồn Long (cồn Thới Sơn) và cồn Lân thuộc tỉnh Tiền Giang; cồn Quy và cồn Phụng thuộc xã Tân Thạch, H.Châu Thành (Bến Tre). Một phần cầu Rạch Miễu đặt trên cồn Thới Sơn, nơi này năm xưa Nguyễn Huệ tiêu diệt 5 vạn quân Xiêm và ngày nay những mảnh vườn, con rạch quanh co, đầy cây ngon trái ngọt.

 Đờn ca tài tử thu hút du khách khi đến Bến Tre
Đờn ca tài tử thu hút du khách khi đến Bến Tre - Ảnh: T.K.Đ

Trong tứ linh thì cồn Long chuyên nuôi thủy sản trên bè và sửa chữa ghe tàu vì gần cảng cá Mỹ Tho. Hoạt động du lịch chủ yếu diễn ra trên cồn Thới Sơn, cồn Phụng và cồn Quy. Đặc biệt, cồn Phụng là nơi tiên phong khai thác thân cây dừa, ban đầu chỉ là hàng gia dụng vặt vãnh rồi tiến tới hình thành một làng nghề mỹ nghệ dừa và sau đó lan rộng cả tỉnh Bến Tre. Tại cồn Phụng vẫn còn giữ di tích kiến trúc lạ mắt và tinh xảo của đạo Dừa do ông Nguyễn Thành Nam lập nên từ thập niên 60 của thế kỷ trước.

Cảm giác của du khách khi mới đến Bến Tre là cứ ngỡ đến xứ… kẹo! Quảng cáo kẹo dừa tràn ngập từ cửa ngõ thành phố chạy dài đến khắp mọi phố xá. Đây chính là quê hương của vài chục loại dừa: dừa cao, dừa lùn, dừa lai… cùng hơn 40 loại sản phẩm chế biến từ dừa bán ra khắp thế giới mà trong đó có lẽ kẹo dừa là đầu bảng.

Nơi nào cũng muốn đến

Đặt chân đến Bến Tre sẽ không khỏi lúng túng và không biết chọn hướng tham quan bởi vì nơi nào cũng… muốn đến. Ở một vùng đất có nhiều người nổi tiếng như nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu; tiến sĩ đầu tiên Nam kỳ lục tỉnh Phan Thanh Giản; nhà giáo Võ Trường Toản; chí sĩ Phan Văn Trị; nhà bác học Trương Vĩnh Ký; nữ tướng Nguyễn Thị Định… thì không thể một sớm một chiều mà đi hết được.

 Hồ Trúc Giang quyến rũ nằm tại trung tâm TP.Bến Tre
Hồ Trúc Giang quyến rũ nằm tại trung tâm TP.Bến Tre - Ảnh: T.K.Đ

Bến Tre là một thành phố nhẹ nhàng. Nhiều kiến trúc cổ Tây Phương lẫn Á Đông vẫn còn nguyên vẹn. Có những con phố rợp bóng cây và hồ Trúc Giang quyến rũ. Sông Bến Tre chảy qua nội ô cùng hai cầu Bến Tre 1 và 2 mở cho thành phố một không gian thoáng đãng đang ngày càng đẹp ra.

Du ngoạn bằng xe buýt ở Bến Tre là một điều thú vị mới. Xe đẹp, đường sạch là ấn tượng của xe buýt xứ dừa. Du khách có thể đi từ TP.HCM hoặc các tỉnh quanh vùng đến Bến Tre hoàn toàn bằng xe buýt với tuyến mở đầu từ Bến xe Tiền Giang đến phà Cổ Chiên và xuống xe tại bến Châu Thành để đến vùng tứ linh. 8 tuyến xe buýt đưa du khách đi khắp mọi nơi của Bến Tre. Cứ 20 phút một chuyến, giúp du khách dễ dàng đến tất cả những danh thắng xứ dừa. Nếu có thêm một hệ thống bản đồ toàn tuyến xe buýt đi qua và đặt ở mọi trạm dừng cùng việc cải thiện chất lượng xe và cung cách phục vụ thì không riêng với Bến Tre, hoàn toàn có thể nghĩ đến một hệ thống chương trình tham quan cả ĐBSCL bằng xe buýt hết sức phong phú.

Tiếp tục đi sâu vào 3 dãy cù lao, Bến Tre còn có những vườn cây trái ở Cái Mơn, Sơn Định, Vĩnh Bình (Chợ Lách) hay Tiên Long, Tiên Thủy, Tân Phú (Châu Thành)… làm du khách rất khó rời chân. Bến Tre còn có khu lưu niệm Đồng Khởi và điểm cầu của Chuyến tàu không số chở vũ khí từ Bắc vào Nam.

Tình người, tình đất Bến Tre thủy chung, sâu lắng và nồng thắm là cảm giác mà đa số du khách mang theo khi rời khỏi xứ dừa.

Trần Kim Đính

 

Nghiêng mình trước đền Ân sư

Email In PDF.

Vùng đất địa linh nhân kiệt Bến Tre được lưu dấu bởi những anh hùng hào kiệt trên nhiều lĩnh vực, trong đó có giáo dục.

Đó là vị tiến sĩ đầu tiên trên đất Nam kỳ Phan Thanh Giản; là nhà bác học Trương Vĩnh Ký - một trong 18 người giỏi nhất thế giới trong thế kỷ XIX; là nhà thơ, thầy thuốc và nhà giáo yêu nước Nguyễn Đình Chiểu… Và cũng chính trên vùng đất này, từng thế hệ tiếp bước lưu giữ truyền thống tôn sư trọng đạo. Truyền thống ấy được hun đúc qua nhiều thế hệ, bằng nhiều hình thức nhưng tựu trung chính là nghĩa cử đậm tính nhân văn, thể hiện giá trị đạo đức của mỗi con người. Những ngày tháng 11 này, chúng tôi lại về với đền Ân sư tiền vãng - nơi lưu danh và tôn thờ các bậc tiền nhân trong ngành giáo dục. Quyện trong làn hương khói tỏa, đền Ân sư tiền vãng tạo nên nét riêng trong không gian trầm ấm giữa chốn thị thành.

Đền Ân sư tiền vãng được xây dựng năm 1969, trong khuôn viên khá đắc địa cạnh hồ Trúc Giang, tiếp giáp với Sở Giáo dục, Trường Tiểu học Bến Tre và Trường Tiểu học Phú Thọ (đang xây). Dù chỉ một gian nhỏ với lối kiến trúc đơn giản, gồm một trệt và tầng hầm nhưng vẫn đủ để tôn nên nét uy nghiêm của một đền thờ.

Với tên gọi ban đầu là Giáo sư tiền vãng, năm 1999, đền được nâng cấp, lát gạch nền và được đổi tên thành Đền Ân sư tiền vãng cho đến bây giờ. Đúng như tên gọi, đền Ân sư tiền vãng lưu danh các thế hệ nhà giáo quá vãng có công trên đất Bến Tre. Tấm gỗ rộng được đặt ngang chính diện là bảng lưu danh 350 nhà giáo mà trong đó Nguyễn Đình Chiểu là tên được đặt ngay giữa đỉnh và lớn nhất. Bên cạnh là tấm bảng nhỏ lưu danh 16 nhà giáo liệt sĩ thời chống Mỹ cứu nước.

Ông Nguyễn Thanh Sơn - nguyên Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo - Chủ tịch Hội Cựu giáo chức tỉnh cho biết, đền Ân sư thường được mở cửa mỗi năm 2 lần, vào dịp kỷ niệm Ngày Nhà giáo Việt Nam 20-11 và Tết Nguyên đán. Đây là dịp để các thế hệ học trò tề tựu thắp nén hương tưởng niệm tri ân những nhà giáo đã khuất. “Trước khi vào họp mặt kỷ niệm Ngày Nhà giáo Việt Nam, chúng tôi đều đến đây viếng hương hồn các bậc tiền nhân” - ông Nguyễn Thanh Sơn nói.

Mặc dù được quan tâm, gìn giữ nhưng đền Ân sư tiền vãng hiện vẫn chưa thật sự được chăm nom theo đúng nghĩa là nơi tôn vinh các bậc thầy. Vẫn trong khuôn viên uy nghiêm cùng cây đa soi bóng làm dịu mát không gian yên ả, nhưng không gian xung quanh trở nên ngổn ngang với đủ thứ hàng xén “quá giang”.

Đền Ân sư tiền vãng hiện đang ở vị trí rất đẹp và đậm ý nghĩa giáo dục, khi tiếp giáp với các trường tiểu học, mầm non và Sở Giáo dục và Đào tạo ngay giữa trung tâm TP. Bến Tre. Ông Trần Công Ngữ - nguyên Phó Chủ tịch UBND tỉnh chia sẻ, việc gìn giữ và tiếp tục trùng tu di tích này là trách nhiệm của các người con Bến Tre. Thêm không gian cây xanh quanh khuôn viên này là sự kết nối liên hoàn về mặt kiến trúc đồng thời có ý nghĩa tích cực trong giáo dục đạo đức, truyền thống cho các thế hệ học sinh.

Báo ân dưỡng dục là đạo đức làm người được đúc kết từ tổ tiên và lưu truyền từ đời này sang đời khác. Đền Ân sư tiền vãng là nơi duy nhất của tỉnh để nhắc nhớ và thể hiện sự tri ân của mỗi người dân Bến Tre. Dù từng ngồi trên ghế nhà trường hay không thì mỗi chúng ta đều có những người thầy cho riêng mình. Đó không phải chỉ là những người thầy trong trường, trong lớp mà là những bậc cao niên, những bậc tiền bối và cả những người đồng hành cùng chia sẻ, truyền đạt kinh nghiệm sống trong hành trình cuộc đời của mỗi người. Bởi thế, gìn giữ và bảo vệ đền Ân sư cũng là cách thể hiện tấm lòng và trách nhiệm của thế hệ hôm nay và mai sau.

Phương Yến

 
Trang 3 của 5

Danh mục

Đăng nhập