Sở Giáo dục và Đào Tạo Bến Tre

Gương sáng

“Làng Tiến sĩ”

Email In PDF.

"Làng" có 5 tiến sĩ, 7 thạc sĩ, trên 120 kỹ sư, cử nhân các ngành nghề, và hơn tất cả có đến 758 người trình độ học vấn cao đang làm việc, phục vụ ở nhiều nơi trong và ngoài tỉnh. Làng được phong tặng là "Làng hiếu học" đứng nhất tỉnh từ nhiều năm qua đang tiếp tục phát huy truyền thống vượt khó học giỏi, quyết chí lập thân lập nghiệp, kiến tạo quê hương…

Từ trong nghèo khó vươn lên

Làng hiếu học ở Ba Tri và tỉnh Bến Tre nhiều nhưng con số giỏi giang và thành đạt thì chỉ có Vĩnh Hòa. Xã thuần nông này trung bình 4 nhân khẩu mới được một công đất sản xuất, với chỉ lúa, màu và cỏ để chăn nuôi gia súc, mức sống thấp thuộc diện xã nghèo, hưởng dự án DBRP. Vậy mà "cái khó không bó sự học".

Xã nhỏ Vĩnh Hòa khiêm nhường nép mình bên thị trấn Ba Tri sầm uất về phía Đông Nam. Nơi đó thức sớm cùng mặt trời lên nên nhiều người thông minh, học giỏi? Hay vì người người noi gương cụ Đồ, cụ Võ Trường Toản, cụ Phan Thanh Giản - vị tiến sĩ đầu tiên của Nam Kỳ lục tỉnh, nên quyết chí lo cho sự học? Thật vậy nhưng chưa phải là tất cả. Vĩnh Hòa luôn tâm niệm chỉ có học hành thành tài mới mong thoát nghèo, vươn lên. Phải người người đi học, nhà nhà đi học; phải vượt lên con số cứ 4 người dân phải có một người đến trường và học hành một cách tử tế. Chủ tịch xã và Phó Chủ tịch HĐND, ông Phạm Thành Long còn cho biết, ngoài động viên, tạo điều kiện cho "người người đi học", xã ráo riết đẩy mạnh vận động các mạnh thường quân, nhà hảo tâm góp tiền, hiện vật vào Quỹ Khuyến học để hỗ trợ thường xuyên, đều khắp các học sinh nghèo, không để xảy ra trường hợp bỏ học nào. Quỹ còn vươn ra xa khen thưởng đột xuất cho những thầy cô giáo có thành tích xuất sắc. Có lúc hỗ trợ cả học sinh nghèo mà hiếu học ở các xã bạn xung quanh.

Ông Nguyễn Vĩnh Viễn, Chủ tịch Hội Khuyến học cho biết: "Quỹ Khuyến học lúc nào cũng có 30 triệu đồng dự trữ để kịp thời giúp học sinh nghèo hoặc có nguy cơ bỏ học. Tùy hoàn cảnh, Hội hỗ trợ tiền hàng tháng, sách vở, xe đạp, đảm bảo các em mau mắn đến trường. Có em đậu đại học được thưởng khích lệ 1 triệu đồng… Hàng năm, Quỹ vận động được bằng tiền và hiện vật gần 150 triệu đồng". Việc quản lý quỹ, xét trợ cấp của Hội Khuyến học đảm bảo tốt. Đồng thời thành tích học tập của con em học sinh trong xã đạt cao, nên những nhà hảo tâm càng hăng hái đóng tiền mỗi năm cho giáo dục xã Vĩnh Hòa càng lớn. Ngoài những nhà tài trợ không thường xuyên từ nhiều nơi, Hội Khuyến học xã có 3 nhà tài trợ chính. Đó là nhóm Vân Anh gồm những sinh viên ra trường, thành đạt trong kinh doanh; nhóm Nguyễn Phong Điền, con trai Chủ tịch Hội Khuyến học xã; nhóm Phan Thị Duyên là những nhà vận động quỹ và là mạnh thường quân của Hội…

Những chùm quả mùa đầu
Vĩnh Hòa hiện có một trường THCS khang trang, đạt chuẩn quốc gia từ năm 2008; hai điểm trường tiểu học thoáng rộng, kiên cố; hai điểm trường mẫu giáo vừa được đầu tư xây mới. Phó Chủ tịch UBND xã Hồ Văn Phúc phấn khởi: "Năm năm qua, tỉ lệ thi vào 3 trường THPT trọng điểm huyện Ba Tri luôn đạt mức cao; học sinh đậu tốt nghiệp THCS giữ vững mức 100%".
Gia đình hiếu học ở Vĩnh Hòa xuất hiện thêm nhiều. Tiêu biểu như gia đình ông Nguyễn Vĩnh Viễn, Chủ tịch Hội Khuyến học; gia đình ông Mai Văn Ký, Chủ tịch UBND xã; gia đình ông Trần Ngọc Để; bà Phan Thị Nhịn. Tất cả đều có đông con em học hành thành tài và đang làm việc tại TP. Hồ Chí Minh.
Theo ông Chủ tịch xã Mai Văn Ký, tính từ năm 1990 đến nay, toàn xã có nhiều người đỗ đạt học vị cao, gồm: 7 thạc sĩ, 5 tiến sĩ, trên 120 kỹ sư, cử nhân, phần lớn đều làm việc ở ngoài tỉnh, nhiều nhất là TP. Hồ Chí Minh, còn khoảng 20% đang công tác tại địa phương. Điển hình như Tiến sĩ Nguyễn Tấn Mẫn, nguyên Thứ trưởng Bộ GTVT; Tiến sĩ Nguyễn Ngọc Cẩn, nguyên Hiệu trưởng một trường đại học ở TP. Hồ Chí Minh; Tiến sĩ Lê Thị Cúc, Giảng viên Trường đại học nông nghiệp; Tiến sĩ Dương Thành Đa, nguyên Phó Giám đốc Công ty Điện máy miền Nam; và gần đây nhất là Tiến sĩ Nguyên Văn Huấn, hiện đang giữ chức Phó Giám đốc Sở Giáo dục - Đào tạo Bến Tre… Theo thống kê, hàng năm xã Vĩnh Hòa có khoảng 15- 20 người ra trường có bằng đại học và có việc làm ổn định. Ông Mai Văn Ký cho biết, nhờ dấy lên phong trào hiếu học một cách thường xuyên, đều khắp mà ngày nay trình độ dân trí ở xã Vĩnh Hòa đã được nâng cao, góp phần đắc lực vào công cuộc xây dựng nông thôn mới. Nhiều hộ có con cái học hành thành đạt, học vị cao, qua làm ăn sinh sống ở ngoài tỉnh đã gởi giúp gia đình nhiều nguồn tiền và hiện vật để nhanh chóng ổn định cuộc sống, xây nhà cửa khang trang. Đồng thời cũng đã gởi về một ngân khoản quan trọng cho xã ấp kiến thiết quê hương.
Giờ đây, xã nhỏ và nghèo khó Vĩnh Hòa đã ngày một thay da đổi thịt, cuộc sống chuyển mình đi lên, không còn cảnh cơ cực như hồi trước ông bà ta từng gánh chịu:
Ai về Giồng Giá qua truông
Gặp đám mưa luồng dưới biển mưa lên!
Xin được nói lời tri ân tất cả những người hiếu học, những gia đình hiếu học, những nhà hảo tâm đã luôn quan tâm trợ giúp và đồng hành cùng "Làng hiếu học" từ trước đến nay. Xin được trọng ơn và biểu dương những thầy cô giáo đã trực tiếp giảng dạy cho sự học được ngày một phát triển, điển hình như các thầy cô: Phan Thanh Tâm, Trịnh Kiểm Bình, Nguyễn Hồng Phúc, Trần Văn Tửng, Cao Thị Hồng Phượng… Nhiều vị lãnh đạo xã Vĩnh Hòa đã rất tâm đắc, và bồi hồi kể lại!.

Những năm gần đây, trong công tác xây dựng nông thôn mới về giáo dục, xã Vĩnh Hòa đạt được 4 tiêu chí Quốc gia về giáo dục, cụ thể: Quy định 100% phổ cập THCS thì từ năm 2005 xã đạt và giữ vững đến nay; Quy định 100% học sinh tốt nghiệp THCS và 95% thi đậu các Trường Trung học phổ thông hoặc chuyên nghiệp thì xã đạt mức 95,5%; Quy định 85% học sinh tốt nghiệp tú tài thì xã đạt mức 90%; Quy định 75% thanh thiếu niên từ 18- 21 tuổi tốt nghiệp THPT hoặc chuyên nghiệp thì xã đạt mức 80%.

Huỳnh Thanh Văn
Nguồn: baodongkhoi.com.vn

 

Thăm làng tiến sĩ ở xứ dừa

Email In PDF.

Dân trí Xã Vĩnh Hòa (Ba Tri, Bến Tre) nổi tiếng là xã khuyến học với nhiều tiến sĩ, thạc sĩ, cử nhân đóng góp lớn cho xã hội. Điều đặc biệt là nhiều gia đình quyết cho con cái chữ chứ không cho tài sản hay ruộng đất nên càng nhiều "ông cử, bà cử" đỗ đạt thành tài.

Từ làng quê nghèo trở thành làng ông cử, bà cử

Từ trung tâm huyện Ba Tri đến xã Vĩnh Hòa chưa đến 10 km nhưng nơi đây từ lâu là một xã thuần nông nghèo với nghề trồng lúa, chăn nuôi. Tuy là xã nghèo nhưng từ xưa nơi đây nổi tiếng là xã hiếu học của tỉnh Bến Tre. Theo thống kê toàn xã có 7 tiến sĩ, 40 thạc sĩ và hàng trăm cử nhân xuất thân từ vùng quê nghèo khó này thành tài đóng góp rất nhiều cho sự phát triển của đất nước. Ông Hồ Văn Phúc, phó Chủ tịch UBND xã Vĩnh Hòa, cho biết: “Đây là xã nghèo diện tích đất sản xuất ít nên người dân rất cần cù trồng trọt, chăn nuôi. Điều đặc biệt do nghèo khó nên ai cũng có tư tưởng cho con cầm viết chứ không muốn cho cầm cày vất vả như thế hệ cha ông. Vậy là thành phong trào rất nhiều người học hành thành tài”.

Những tấm gương học giỏi được tuyên dương hàng năm ở trường Tiểu học Vĩnh Hoà
Những tấm gương học giỏi được tuyên dương hàng năm ở Trường tiểu học Vĩnh Hòa.

Theo ông Phúc, những tiền sĩ nổi tiếng ở địa phương có thể thống kê được như Tiến sĩ Nguyễn Tấn Mẫn, nguyên Thứ trưởng Bộ Giao thông Vận tải; Tiến sĩ Dương Thành Đa, nguyên phó giám đốc Công ty Điện máy miền Nam; Tiến sĩ Nguyễn Ngọc Cẩn, nguyên hiệu trưởng Trường ĐH Sư phạm Kỹ thuật Thủ Đức (nay là ĐH Sư phạm Kỹ thuật TPHCM); Tiến sĩ Lê Thị Cúc, nguyên giảng viên Trường ĐH Nông nghiệp; Tiến sĩ Nguyễn Văn Huấn, phó giám đốc Sở GD-ĐT tỉnh Bến Tre… Còn đối với thạc sĩ, cử nhân thì chỉ biết số lượng chứ chưa biết chính xác họ tên. Trung bình mỗi năm ở địa phương có khoảng 20 đến 30 em học hết lớp 12 thi đỗ vào các trường đại học.

Học sinh trường tiểu học Vĩnh Hoà
Học sinh Trường tiểu học Vĩnh Hòa.

Để tiếp thêm tinh thần cho các em, mỗi năm sau kỳ thi đại học địa phương sẽ tổ chức buổi lễ tuyên dương, khen thưởng các em có thành tích đỗ đại học. Mỗi em nhận được suất học bổng vài trăm ngàn để chuẩn bị hành trang lên thành phố nhập học. Năm nào cũng có vài chục em ở địa phương thi đỗ đại học.

Những câu chuyện vượt khó tìm con chữ

Nhiều câu chuyện việc phấn đấu vươn lên trong học tập ở đất Vĩnh Hoà được truyền miệng từ đời này sang đời khác để giáo dục các thế hệ noi theo. Trong đó tấm gương những tiến sĩ, thạc sĩ thành tài hay những gia đình hiếu học được nhiều người nhắc tới.

Ông Nguyễn Văn Thạnh, Phó Chủ tịch Hội Khuyến học xã Vĩnh Hòa cho biết: “Ở địa phương có rất nhiều tấm gương vượt khó, hiếu học. Chẳng hạn câu chuyện về gia đình cha cùng hai người con cùng học lớp bổ túc buổi tối để lấy kiến thức. Khi trên lớp hay về nhà thì cha con tranh luận về cách giải một bài toán ỏm tỏi bình thường như bạn bè…”.

Dù nghèo khó nhưng ông Phuôn vẫn chắc chiu lo cho con ăn học
Dù nghèo khó nhưng ông Phuôn vẫn chắt chiu lo cho con ăn học.

Ngoài ra, theo ông Thạnh, nhiều gia đình còn truyền miệng câu chuyện phấn đấu vươn lên của cô giáo tên Nguyễn Thanh Thủy hiện đã về hưu. Mấy chục năm trước, cô Thủy làm nghề trồng rau rồi gánh ra chợ bán. Thế mà bỗng một ngày cô trở thành giáo viên khiến hàng xóm, láng giềng ai cũng bất ngờ. Hỏi ra mới biết, ban ngày trồng rau ra đem ra chợ bán, tối về cô Thủy đạp xe gần 10 km lên trung tâm huyện học bổ túc rồi học Sư phạm để trở thành một giáo viên. Hay hiện tại có trường hợp phấn đấu vươn lên của cô Trần Thanh Thảo, sinh năm 1981 hiện là sinh viên năm thứ nhất cũng được nhiều người khâm phục. Do nhà nghèo, Thảo nghỉ học từ năm lớp 6 để phục gia đình. Hơn chục năm sau khi đã lấy chồng, có hai đứa con nhưng cô vẫn đăng ký đi học bổ túc cấp 2 rồi cấp 3 và thi đổ vào Trường Cao đẳng Sư phạm…

Hầu hết những gia đình ở đất Vĩnh Hòa đều chọn con đường cho con em mình học chữ dù nghèo khó. Gia đình ông Trần Văn Phuôn, 67 tuổi (ngụ ấp Bến Vựa, xã Vĩnh Hòa) chỉ có mấy công đất ruộng trong khi cả chục đứa con đang tuổi ăn, tuổi học. Ông Phuôn cho biết: “Thời điểm sau năm 1980, ở địa phương cải cách ruộng đất, mỗi gia đình đều được chia đất theo nhân khẩu nên nhà nào cũng có mấy công đất chỉ đủ ăn. Vì vậy, chỉ có thể cho mấy đứa con ăn học mới thoát nghèo được. Suốt nhiều năm tôi vừa làm ruộng, nuôi bò để nuôi mấy đứa con ăn học. Bây giờ hầu hết những đứa con đều thành tài với những tấm bằng cử nhân, bác sĩ, y sĩ công tác tại huyện nhà và trên trung tâm tỉnh”. Theo ông Phuôn, hầu như nhà nào cũng ráng cho con ăn học và coi như đó là tài sản duy nhất để lại cho con.

Bây giờ vùng đất Vĩnh Hoà cũng còn nhiều khó khăn, nhưng nhiều gia đình vẫn quyết tâm cho con ăn học. Hàng năm, những người con thành tài đang làm việc ở khắp nơi trên cả nước đóng góp tiền bạc, vật chất để giúp những học sinh nghèo tới lớp. Từ đó trở thành truyền thống để vùng đất thuần nông này ngày càng có nhiều "ông cử, bà cử".

Minh Giang
 

“Chuyên gia” đào tạo học sinh giỏi Lịch sử xứ dừa

Email In PDF.

Cô Nguyễn Thị Tuyết Mai và học sinh say mê trong giờ Lịch sửCô Nguyễn Thị Tuyết Mai và học sinh say mê trong giờ Lịch sử

GD&TĐ - Học sinh khối 12 chưa bao giờ đủ số lượng để lập đội tuyển cấp tỉnh, phải “chiêu mộ” thêm từ học sinh khối 11, nhưng trong vòng 5 năm, NGƯT Nguyễn Thị Tuyết Mai (Trường THPT chuyên Bến Tre, tỉnh Bến Tre) đã làm nên thành tích mọi giáo viên đều mơ ước: 57 học sinh giỏi cấp tỉnh, 12 học sinh đoạt giải Olympic các tỉnh phía Nam và 7 học sinh giỏi quốc gia.

Nhận đơm nút áo, vắt lai quần để theo nghề dạy học

Cô Mai kể, mình mơ được làm cô giáo từ nhỏ. Sinh ra trong gia đình thuần nông nghèo ở Tiền Giang, tuổi thơ không có đồ chơi đẹp, cô bé Mai khi đó thường lấy cây, ghế ngồi... làm học trò, “đồ dùng dạy học” là mấy mẩu phấn vụn cùng cánh cửa tôn cũ rích, để cứ học gì trên lớp là về nhà dạy lại y như vậy.

Ước mơ đó cứ lớn dần, trở thành động lực mạnh mẽ giúp Mai quyết không rời ghế nhà trường, dù hoàn cảnh nhiều lúc rất khó khăn và dù nhiều bạn cùng quê lần lượt nghỉ học. Để rồi cuối cùng, ước mơ đã trở thành hiện thực sau 4 năm miệt mài trên giảng đường Trường ĐH Sư phạm Cần Thơ.

Nhớ như in lúc mới vào nghề, đó là những năm 80, đất nước còn vô vàn khó khăn, cô Mai đã chứng kiến nhiều bạn đồng nghiệp không thể trụ vững, phải bỏ trường, bỏ lớp vì cơm áo, gạo tiền. Để tiếp tục theo đuổi nghề dạy học, cô lúc thì nhận đơm khuy áo, vắt lai áo, lai quần; lúc thì móc bao viết bằng len gửi bán ở các ki ốt... trang trải thêm cho cuộc sống.

“Chồng mình cũng làm cùng ngành nên khi đó kinh tế gia đình khó khăn ghê lắm. Giờ còn nhớ như in hình ảnh ông xã còng lưng phụ khuân sách cho công ty sách sau giờ làm việc mà vẫn thiếu trước hụt sau. Khi con đau bệnh, đi dạy xa nhà cũng có lúc thấy chùn lòng, nhưng chỉ một lúc thôi lại tự quyết tâm: Phải làm cô giáo hết cuộc đời này!” - cô Mai kể lại.

Khi theo chồng về Bến Tre, cô Mai được phân công vào Trường THCS Bình Phú, dạy môn Lịch sử và Giáo dục công dân cho khối 6 và 7; chồng cô cũng chuyển về làm công tác tổ chức cán bộ của Sở GD&ĐT. Chính tại ngôi trường này, cô Mai đã càng thêm yêu nghề dạy học với bao yêu thương của học trò và đồng nghiệp.

Một hoạt động ngoại khóa sôi nổi của các em HS Trường THPT chuyên Bến Tre 

Hãy tham vọng: Tôi sẽ dạy giỏi hơn!

Với sự ủng hộ của Sở GD&ĐT, Trường THPT chuyên Bến Tre được tuyển sinh lớp chuyên Lịch sử, nhưng số lượng tuyển vào rất ít. Năm học đầu tiên chỉ tuyển được 4 học sinh trên tổng số 23 chỉ tiêu; năm tiếp theo khá hơn, tuyển được 7 trên 17 chỉ tiêu... Đông nhất trong “lịch sử” lớp chuyên Sử của trường là 15 học sinh trong năm học 2014 - 2015 này.

Cô Mai đã đưa ra con số đó khi trải lòng về khó khăn trong nghề. Tuy nhiên, điều ấy không hề làm nhụt chí cô giáo dày dạn kinh nghiệm. Học sinh khối 12 chưa bao giờ đủ số lượng để lập đội tuyển dự thi cấp tỉnh thì cô “chiêu dụ” thêm học sinh lớp 11.

Khó khăn về “đầu vào”, nhưng chỉ trong 5 năm, số lượng học sinh giỏi cấp tỉnh, cấp khu vực, học sinh giỏi quốc gia môn Lịch sử, dưới sự dìu dắt của cô Mai đã lên tới con số gần 80 học sinh.

Trong đó, học sinh Thiện Anh - giải Nhất học sinh giỏi Lịch sử quốc gia năm 2012 - là thí sinh duy  nhất ở miền Nam đạt 18 điểm và được về dự lễ vinh danh tại Quốc Tử Giám do Viện Sử học Việt Nam tổ chức lần đầu tiên.

“Cùng với nhân lực, công tác chuẩn bị luôn phải mang tính chiến lược, dài hơi. Thông thường, phân loại học sinh được thực hiện từ năm lớp 10, chú ý các em có năng lực và yêu thích bộ môn; sau đó phân công giáo viên theo dõi hướng dẫn. Việc bồi dưỡng trên lớp chỉ là nền kiến thức. Trong quá trình bồi dưỡng, điều vô cùng quan trọng là trang bị cho học sinh tinh thần tự học, tự nghiên cứu.

Nếu có học sinh ngoài trường chuyên trong đội tuyển, chúng tôi phân hóa học sinh, đưa về nhà luyện tập thêm miễn phí, chú ý sửa bài tập cho các em có khả năng đạt giải quốc gia theo dự tính của nhóm chuyên môn.

Tuy nhiên, cùng với các “chiêu thức” rèn đội tuyển, mình sẽ không thể thành công nếu thiếu sự hậu thuẫn của các đồng nghiệp và người bạn đời cùng chuyên môn” - cô Mai tâm sự.

Về bài học thành công, cô Mai cho rằng: Nếu muốn học sinh yêu thích Lịch sử, trước hết, người giáo viên cũng phải thực sự yêu môn học này; luôn lấy bài học “thất bại là mẹ thành công”, không lùi bước trước bất kỳ rào cản nào; không tự mãn trước thành công; đừng bao giờ bằng lòng với thực tại và hãy có chút tham vọng chính đáng là: Tôi sẽ dạy giỏi hơn.

 

“Dấu ấn” cô giáo chuyên Sử

Từ năm 2008 - 2015: Đào tạo 14 học sinh đoạt giải cấp quốc gia, 78 học sinh giỏi cấp tỉnh; Gương điển hình trong phong trào thi đua yêu nước của Hội Liên Hiệp phụ nữ tỉnh Bến Tre  (năm 2015); Gương điển hình trong phong trào thi đua yêu nước của Công đoàn ngành Giáo dục tỉnh Bến Tre (năm 2015); Được nhận các Bằng khen của: Thủ tướng Chính phủ (năm 2012); UBND tỉnh (5 năm); Liên Đoàn lao động tỉnh Bến Tre (6 năm); Công đoàn giáo dục Việt Nam (2 năm); Bộ GD&ĐT (2 năm);  Chiến sĩ thi đua cơ sở (11 lần), 2 lần đạt Chiến sĩ thi đua cấp tỉnh; Huân chương lao động Hạng 3 (năm 2013); Nhà giáo tiêu biểu (giai đoạn 2008 - 2013); Nhận danh hiệu Nhà giáo ưu tú (năm 2012); Được xét tặng giải Ý tưởng xanh (năm 2012); Danh hiệu giáo viên dạy giỏi cấp tỉnh từ năm 2006 - 2009; Nhiều sáng kiến kinh nghiệm cấp ngành, cấp tỉnh; 2 giải Khuyến khích, 1 giải Ba hội thi sáng tạo Khoa học kỹ thuật cấp tỉnh; Hướng dẫn học sinh nghiên cứu khoa học đoạt giải Nhì cấp tỉnh...

 

 

Hướng tới Đại hội Thi đua yêu nước ngành Giáo dục lần thứ VI, kỷ niệm 70 năm xây dựng và phát triển nền giáo dục Việt Nam, bắt đầu từ 3/4/2015 đến ngày 28/8/2015, báo Giáo dục và Thời đại phối hợp với Công đoàn Giáo dục Việt Nam, Vụ Thi đua Khen thưởng, Cục Nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục (Bộ GD&ĐT) mở chuyên mục "Gương sáng, việc hay ngành Giáo dục".

Chuyên mục nhằm giới thiệu, tôn vinh các tấm gương người tốt, việc tốt trong đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục và học sinh, sinh viên; những điển hình tiên tiến xuất sắc tại các cơ sở giáo dục... 

Sau khi đăng tải trên các ấn phẩm của báo Giáo dục và Thời đại, những tấm gương, những bài báo xuất sắc nhất sẽ được tuyển chọn vào tuyển tập sách do báo Giáo dục và Thời đại phát hành. Ban Biên tập mong muốn nhận được bài viết của các nhà báo, cộng tác viên cùng đông đảo bạn đọc. 

Bài, ảnh tham gia chuyên mục xin gửi về địa chỉ:  Địa chỉ email này đã được bảo vệ từ spam bots, bạn cần kích hoạt Javascript để xem nó. ; hoặc: Báo Giáo dục và Thời đại, 29B Ngô Quyền, Hà Nội.

Hiếu Nguyễn

 

Bí kíp giáo dục tư tưởng đại đoàn kết dân tộc trong dạy học Lịch sử

Email In PDF.

 GD&TĐ - Cô Nguyễn Thị Tuyết Mai - giáo viên Trường THPT chuyên Bến Tre - cho biết: Qua nghiên cứu, khảo sát, nhiều giáo viên chưa quan tâm đúng mức bồi dưỡng học sinh tư tưởng đại đoàn kết dân tộc. 

Do vậy, việc giáo dục tư tưởng đại đoàn kết  dân tộc thông qua những bài dạy lịch sử cụ thể là yêu cầu bức thiết.

Để thực hiện điều này, trước hết, giáo viên cần nghiên cứu kĩ nội dung từng bài dạy để liên hệ lồng ghép nội dung giáo dục nhằm đạt được mục đích đề ra. Đồng thời, nghiên cứu kỹ về tư tưởng Hồ Chí Minh nói về đại đoàn kết dân tộc …

Sau đó, áp dụng cụ thể vào bài dạy; rút kinh nghiệm, điều chỉnh, bổ sung cho phù hợp với đối tượng và thực hiện tiếp...

Về phía học sinh, cần tập sưu tầm tư liệu về đại đoàn kết  dân tộc, tham gia xây dựng bài học; rèn luyện khả năng phân tích, đánh giá, tổng hợp, dự đoán; rèn luyện tính độc lập suy nghĩ. Khi học, học sinh nên  tự đặt ra vấn đề để giải quyết.

Giáo dục tư tưởng đại đoàn kết dân tộc được cô Nguyễn Thị Tuyết Mai áp dụng cụ thể trong từng bài dạy lịch sử như sau: 

Bài 14: Phong trào cách mạng 1930-1935.

Nội dung

Biện pháp tiến hành

Giáo dục tư tưởng

Mục II. Phong trào Cách mạng 1930-1931 với đỉnh cao Xô viết Nghệ- Tĩnh:

Phong trào CM 1930-1931 là phong trào đấu tranh do Đảng lãnh đạo diễn ra trên qui mô toàn quốc, lôi cuốn đôn đảo các tầng lớp tham gia, tiêu biểu là công nhân và nông dân.

* GV giới thiệu và phân tích thêm: Giữa lúc cao trào cách mạng đầu tiên mà đỉnh cao là Xô viết Nghệ Tĩnh đang diễn ra rầm rộ, ngày 18/11/1930, Ban Thường vụ trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương ra chỉ thị thành lập Hội phản đế đồng minh

*GV hỏi:Tại sao Đảng lại thành lập Hội phản đế đồng minh?

-HS tư duy trả lời và qua đó Gv nêu lên tầm quan trọng của việc đoàn kết dân tộc để chống kẻ thù chung.

 

 

 

*Qua việc Đảng thành lập tổ chức Hội phản đế đồng minh

à đây là hình thức đầu tiên của Mặt trận dân tộc thống nhất Việt Nam.

* Qua đây GV đã giáo dục được nền tảng đầu tiên để hình thành tư tưởng Đại đoàn kết dân tộc.

Bài 15: Phong trào dân chủ 1936-1939

Nội dung

Biện pháp tiến hành

Giáo dục tư tưởng

Mục II; Phong trào dân chủ 1936- 1939:

1. Hội nghị BCH TW Đảng CS Đông Dương ( 7/1936):

-chủ trương thành lập Mặt trận thống nhất nhân dân phản đế Đông Dương

 

* GV phân tích: Trong quá trình cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, nội dung và hình thức tổ chức của Mặt trận có sự thay đổi phù hợp với nhiệm vụ cách mạng từng lúc, từng nơi. Đó là Mặt trận thống nhất nhân dân phản đế Đông Dương, đến 3/1938 đổi thành Mặt trận dân chủ Đông Dương trong những năm đấu tranh hợp pháp 1936 – 1939.

*GV phát vấn: So sánh lực lượng tham gia 2 tổ chức Hội phản đế đồng minh Mặt trận thống nhất nhân dân phản đế Đông Dương.

*GV mở rộng thêm: Ngày 30/10/1936, Đảng Cộng sản Đông Dương đưa ra chính sách mới nhằm khắc phục những sai lầm trong nhận thức và hành động trong quá trình thực hiện liên minh thời kỳ trước. Đảng Cộng sản Đông Dương chủ trương thành lập Mặt trận Thống nhất Nhân dân Phản đế nhằm cụ thể hóa chính sách này. Việc tập hợp lực lượng trong Mặt trận được công khai qua bức thư ngỏ của Đảng Cộng sản Đông Dương gửi cho Chính phủ Mặt trận Nhân dân Pháp bày tỏ sự đồng tình với nhân dân Pháp, kêu gọi ban hành một số quyền tự do dân chủ cơ bản cho nhân dân Đông Dương và hô hào "tất cả các đảng phái chính trị, tất cả các tầng lớp nhân dân Đông Dương tham gia Mặt trận nhân dân Đông Dương"à đoàn kết quốc tế.

*GV liên hệ tình hình hiện nay.

*Sự chuyển hướng sách lược của Đảng CS Đông Dương phù hợp với tình hình mớià quan điểm của Hồ Chí Minh được đảng vận dụng một cách sáng tạo trong thời kì này “Người căn dặn, trong từng thời kỳ, từng giai đoạn cách mạng có thể và cần thiết phải điều chỉnh chính sách và phương pháp tập hợp cho phù hợp với những đối tượng khác nhau,…”.

 

 

 

àHS nhận thức được rằng đến thời kì 1936-1939 Đảng tập hợp lực lượng"tất cả các đảng phái chính trị, tất cả các tầng lớp nhân dân Đông Dương tham gia Mặt trận Thống nhất nhân dân Đông Dương" nhằm đấu tranh đòi dân sinh dân chủ.

à Giáo dục tư tưởng đoàn kết quốc tế cho HS: Trong tư tưởng Hồ Chí Minh: Người chủ trương đoàn kết rộng rãi, chặt chẽ và lâu dài toàn dân tộc thành một khối. Đoàn kết dân tộc kết hợp với đoàn kết quốc tế sẽ tạo ra sức mạnh to lớn để chiến thắng mọi kẻ thù.

 

 

 

.à Trang bị cho HS tinh thần đoàn kết quốc tế.

Bài 16: Phong trào giải phóng dân tộc và tổng khởi nghĩa tháng Tám  ( 1939-1945). Nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời

Nội dung

Biện pháp tiến hành

Giáo dục tư tưởng

Mục II. Phong trào giải phóng dân tộc từ 9/1939 đến 3/ 1945:

1. Hội nghị BCH TW Đảng CS Đông Dương tháng 11/1939.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

3.Nguyễn Ái Quốc về nước trực tiếp lãnh đạo cách mạng. Hội nghị lần thứ 8 BCH TW Đảng CS Đông Dương

( 5/1941)

*GV phân tích nguyên nhân: Tháng 9 năm 1939,chiến tranh thế giới lần thứ hai bùng nổ, Mặt trận Dân chủ Đông dương bị thực dân Pháp thẳng tay đàn áp. Cùng với sự đầu hàng thoả hiệp của thực dân Pháp với phát xít Nhật, vấn đề sống còn của các dân tộc Đông Dương đã đặt ra. Tháng 11/1939 Đảng Cộng sản Đông Dương đã kịp thời chuyển hướng chỉ đạo, chuyển cuộc vận động Mặt trận Dân chủ thành Mặt trận Dân tộc thống nhất chống chiến tranh đế quốc với tên gọi chính thức: Mặt trận Dân tộc thống nhất phản đế Đông Dương nhằm liên hiệp tất cả các dân tộc Đông Dương, các giai tầng, đảng phái, cá nhân có tinh thần phản đế muốn giải phóng dân tộc chống đế quốc, bè lũ tay sai của chúng và vua chúa bản xứ phản bội quyền lợi dân tộc. Các tổ chức phản đế phát triển nhanh chóng dưới hình thức bí mật và công khai.

*Ngày 19/5/1941, theo sáng kiến của Hồ Chí Minh, Việt Nam độc lập đồng minh (Việt Minh) thành lập tại Pắc Pó (Cao Bằng) Mặt trận Việt Minh trong cao trào đánh Pháp, đuổi Nhật đưa tới thành công của Cách mạng Tháng Tám /1945 và việc thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà,

-Từ sáng kiến triệu tập toàn quốc đại biểu đại hội, Đại hội Quốc dân do Tổng bộ Việt minh triệu tập họp ở Tân trào trong 2 ngày 16-17/8/1945 đã thông qua lệnh tổng khởi nghĩa, quyết định quốc kỳ, quốc ca cử ra Uỷ ban giải phóng dân tộc tức là Chính phủ lâm thời do Hồ Chí minh làm Chủ tịch và ngày 2/9/1945 Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ lâm thời đọc tuyên ngôn độc lập, đại biểu tổng bộ Việt minh Nguyễn Lương Bằng đọc lời hiệu triệu đồng bào cả nước.

 

 

 

 

 

 

 

à Sự chuyển hướng chỉ đạo chiến lược của Đảng à thay đổi tên gọi của mặt trận cho phù hợp, chứ thực chất vẫn thực hiệc chính sách đại đoàn kết dân tộc để tập hợp lực lượng chống kẻ thù chung.

 

 

 

 

 

 

- Mặt trận Việt minh thu hút được mọi giới đồng bào yêu nước, từ công nhân, nông dân, trí thức, tiểu tư sản đến tư sản dân tộc, phú nông và một số địa chủ nhỏ có tinh thần yêu nước, đưa tới cao trào đánh Pháp, đuổi Nhật của toàn dân ta trong những năm 1941-1945, Mặt trận Việt minh là một trong những nhân tố cơ bản bảo đảm cho cách mạng thành công.

 

 

Bài 17:Nước Việt Nam dân chủ công hòa từ 2/9/1945 đến trước 19/12/1946:

Nội dung

Biện pháp tiến hành

Giáo dục tư tưởng

Mục II. Xây dựng chính quyền cách mạng, giải quyết nạn đói, nạn dốt và khó khăn về tài chính:

1. Xây dựng chính quyền cách mạng

*GV giới thiệu thêm: Tháng 5 năm 1946, giữa lúc nước Việt nam dân chủ cộng hoà vừa ra đời phải đương đầu với nhiều khó khăn lớn, cũng theo sáng kiến của Người, một Ban vận động thành lập Hội liên hiệp quốc dân Việt nam gồm 27 người với đại biểu Việt minh là Hồ Chí Minh, được thành lập .

*GV hỏi HS ? Vị trí của 2 tổ chức Việt minh và Liên Việtà cùng nhau làm chỗ dựa vững chắc cho chính quyền Cách mạng non trẻ đối phó có hiệu lực với thù trong giặc ngoài

 

 

 

 

 

àNhằm mở rộng hơn nữa khối đoàn kết dân tộc.

 

 

 

 

Bài 19: Bước phát triển của cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp ( 1951- 1953)

Nội dung

Biện pháp tiến hành

Giáo dục tư tưởng

Mục III. Hậu phương kháng chiến phát triển mọi mặt:

*Về chính trị

*GV phân tích: Tháng 3 năm 1951, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đã đi vào giai đoạn quyết liệt, thực hiện khẩu hiệu " Tất cả cho tiền tuyến ", yêu cầu tập hợp các hình thức tổ chức Mặt trận,lúc này Mặt trận Việt Minh và Hội Liên Việt, hai tổ chức Mặt trận được hợp nhất thành Mặt trận Liên Việt.

*Mặt trận Liên Việt đã góp phần động viên công sức của toàn quân, toàn dân lập nên chiến thắng lịch sử Điện Biên phủ, đưa đến việc ký kết hiệp định Giơ-ne-vơ năm 1954 công nhận chủ quyền, độc lập, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của nước Việt nam.

 

 

 

àĐể đoàn kết động viên toàn dân ta tập trung sức người sức của đẩy mạnh kháng chiến trở nên cấp bách. Với các chủ trương đường lối đúng đắn Đảng Lao động Việt Nam và sự ủng hộ tích cực của các Đảng Xã hội, Đảng Dân chủ, các tổ chức chính trị, các nhân sĩ trí thức trong Mặt trận Việt Minh và Hội Liên Việt

Qua các bài học trên, để mở rộng khối đoàn kết dân tộc giáo viên liên hệ giới thiệu:   

Nội dung

Biện pháp tiến hành

Giáo dục tư tưởng

*Liên hệ để giáo dục:

1.Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

2.Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam

 

 

 

 

 

 

 

 

 

3. Liên minh các lực lượng Dân tộc, Dân chủ và Hoà bình Việt nam

 

 

*Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (9/1955).

* Trong cao trào Đồng Khởi của đồng bào miền Nam, Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam(12/1960).

Mặt trận dân tộc giải phóng không ngừng củng cố và mở rộng khối đoàn kết dân tộc, tổ chức và động viên đồng bào và chiến sĩ miền Nam đẩy mạnh đấu tranh trên cả ba mặt trận: quân sự, chính trị và ngoại giao. ảnh hưởng của Mặt trận Dân tộc Giải phóng không ngừng được mở rộng trong các tầng lớp nhân dân miền Nam và uy tín của mặt trận đã được nâng cao trên trường quốc tế

*Trong cao trào tiến công và nổi dậy đầu xuân Mậu Thân (1968) Liên minh các lực lượng Dân tộc, Dân chủ và Hoà bình Việt nam ra đời (20-4-1968).

*Phấn đấu cho một mục tiêu chung là giải phóng miền Nam, bảo vệ và xây dựng miền Bắc thực hiện thống nhất nước nhà, Mặt trận Tổ quốc Việt nam, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam và Liên minh các lực lượng Dân tộc, Dân chủ và Hoà bình Việt nam đã luôn luôn hợp tác chặt chẽ, hỗ trợ nhau tạo nên một sức mạnh không gì lay chuyển nổi của khối đại đoàn kết dân tộc, và đã đưa cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của toàn dân đến thắng lợi hoàn toàn, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, thực hiện thống nhất nước nhà.

*Sau khi cả nước đã được độc lập, sự thống nhất và toàn vẹn của một quốc gia đòi hỏi hợp nhất 3 tổ chức mặt trận. Nhằm đáp ứng yêu cầu của giai đoạn cách mạng mới, Đại hội Mặt trận Dân tộc thống nhất họp từ 31-1 đến 4-2-1977 tại thành phố Hồ Chí Minh đã thống nhất ba tổ chức Mặt trận ở hai miền Nam Bắc nước ta thành một tổ chức Mặt trận Dân tộc thống nhất duy nhất lấy tên là Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

.

 

 

à tiếp tục sự nghiệp đoàn kết toàn dân của Mặt trận Liên Việt.

àNhằm đoàn kết toàn dân đánh bại chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ, đánh đổ chính quyền tay sai của chúng, giải phóng miền Nam, tiến tới thống nhất Tổ quốc. Với đường lối đúng đắn ấy, Mặt trận Dân tộc Giải phóng đã tập hợp các tầng lớp nhân dân, các tổ chức và mọi người Việt nam yêu nước, để cùng nhau chống Mỹ cứu nước.

 

à Kết tụ từ các phong trào đấu tranh yêu nước của các giới sinh viên, học sinh, trí thức, đồng bào tôn giáo, công thương gia, nhân sĩ dân chủ tại các thành thị miền Nam, Liên minh các lực lượng Dân tộc, Dân chủ và Hoà bình Việt nam bằng những công tác trong nước và ngoài nước đã góp sức động viên xúc tiến các phong trào ấy, tăng thêm sức mạnh cho khối đoàn kết toàn dân, chống Mỹ cứu nước.

 

 

 

 

à Mặt trận Tổ quốc Việt Nam với sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, sự thống nhất ý chí của tất cả các tổ chức của các giai tầng trong xã hội, các cá nhân tiêu biểu của các dân tộc, tôn giáo, tầng lớp, các vị lãnh đạo tiêu biểu cho ý chí đoàn kết của dân tộc, luôn phấn đấu xây dựng khối Đại đoàn kết dân tộc vững mạnh, thực hiện mục đích xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh".

Hải Bình (ghi)

 

Những lưu ý khi chấm bài văn nghị luận

Email In PDF.

 GD&TĐ - Cô Phạm Thị Mai Hương - giáo viên THPT Lê Anh Xuân (Bến Tre) - cho rằng: Việc chấm trả bài là dịp tốt nhất để giáo viên nắm được đời sống tâm lý, những bộc lộ thuộc về cá tính, đạo đức của từng học sinh để từ đó có phương pháp, biện pháp giáo dục thích hợp.

Lưu ý phân loại bài làm

Điều đầu tiên, theo cô Phạm Thị Mai Hương, khi chấm bài, ngoài đánh giá chất lượng, chữa lỗi trong bài làm của học sinh theo yêu cầu công tác giảng dạy, giáo viên cần chú trọng đến phát hiện, phân loại bài làm của học sinh để có hướng giáo dục phù hợp.

Việc phân loại có thể chia ra phân loại bài làm về mặt hình thức và phân loại bài làm theo nội dung.

Phân loại bài làm về mặt hình thức như bố cục, kết cấu, chữ viết, cách dùng từ, diễn đạt…, giáo viên cần chú ý xem bài làm của học sinh có đảm bảo yêu cầu nội dung, có thiên hướng tích cực hay không? Bài làm thể hiện rõ cá tính hoặc bộc lộ những tâm sự thầm kín của các nhân học sinh? Bài làm chưa đạt về nội dung hoặc thể hiện những nhận thức sai lầm?

Phân loại bài làm, nhất là theo phương diện nội dung, theo cô Phạm Thị Mai Hương, là việc làm rất hữu ích, vì thực chất đó cũng chính là sự phân loại đối tượng học sinh để tìm ra các đối tượng cần quan tâm giúp đỡ, giáo dục.

Trân trọng những nhận thức đúng đắn

Một vấn đề nữa là khi chấm bài làm văn Nghị luận xã hội, cô Hương cho rằng, giáo viên nên chú ý đánh giá những bài làm thể hiện quan điểm, tư tưởng, tình cảm đúng đắn, chân thật.

Có thể bài làm đó có những điểm chưa đạt về hình thức nhưng rất cần trân trọng những nhận thức đúng đắn và tình cảm chân thật của các em.

Nếu vì lỗi hình thức mà cho điểm kém thì chưa chắc đã là một biện pháp giáo dục hay.

“Mặc dù việc cho điểm bài làm văn của học sinh hiện nay còn nhiều điều đáng bàn, nhưng theo tôi khi chấm điểm ta nên đặt ra những yêu cầu nhất định cả về nội dung và hình thức đối với bài làm của học sinh.

Việc cho điểm không phải là cách để cải thiện chất lượng học văn cũng như đạo đức học sinh.

Nhưng chúng ta phải cho điểm để làm sao lần sau học sinh vẫn mạnh dạn viết ra được những điều các em đã nghĩ, đã nhận thức” - cô Phạm Thị Mai Hương nêu quan điểm.

Một số lưu ý khi trả bài

Giờ trả bài là khâu cuối cùng hoàn chỉnh mục đích của việc ra đề văn. Vì vậy, ở bước thứ nhất, theo cô Hương, giáo viên có thể yêu cầu học sinh thực hiện việc tìm hiểu đề lại. Sau đó, nhấn mạnh vấn đề mà đề bài yêu cầu, chỉ ra những dẫn chứng thực tế trong đó có những biểu hiện mang tính tính cực lẫn tiêu cực có liên quan đến đề.

Sau khi nhận xét chung và chữa một số lỗi về hình thức và nội dung trong bài làm của học sinh, giáo viên có thể đọc một số bài văn tiêu biểu đã được phân loại khi chấm bài và cho các học sinh khác nhận xét.

Đó cũng là một lần giáo dục các em. Riêng đối với những học sinh có nhận thức sai lầm, lệch lạc hoặc có tâm sự riêng thì tùy từng trường hợp cụ thể giáo viên có thể gặp gỡ, trao đổi ngoài giờ.

Hải Bình (ghi)

 
Trang 2 của 11

Danh mục

Đăng nhập