Sở Giáo dục và Đào Tạo Bến Tre

Tính nhân văn và Tính giáo dục trong Bài Chòi

Email In PDF.

(GD&TĐ) - Cho đến ngày nay không ai xác định rõ Bài Chòi ra đời từ khi nào. Có nhiều giả thuyết cho rằng Bài Chòi ra đời từ khoảng thế kỉ XV gắn với quá trình mở nước của người Việt.

Trong số đó đáng chú ý là giả thuyết của nhà âm nhạc học người Pháp G.L Bovier, ông cho rằng “Bài Chòi được hình thành và phát triển sau những năm 1470 Nam tiến. Người Việt ra sức khẩn hoang từ vùng Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định cho tới BìnhThuận. Đặc biệt thành công trong công việc xây dựng kinh tế, văn hoá và đời sống vùng châu thổ Bình Định, Phú Yển rất phì nhiêu. Trong số đó có nhiều người từ nhiều địa phương có truyền thống văn hoá từ lâu đời phong phú và đa dạng, có điều kiện kết hơp nhanh chóng với nền văn hoá của địa phương, một số làn điệu dân ca, hò lý, hò chèo thuyền, hò giã gạo… còn giữ được bản sắc ban đầu đồng thời phát triển, sáng tạo ra những làn điệu mới…” (1)

Bài Chòi là một trò chơi dân gian mang tính văn nghệ quần chúng như hai học giả P.Huard và M.Durand đã nhận xét “Qua một thời gian dài Bài Chòi đã trở thành nhu cầu giải trí lành mạnh trong kho tàng văn nghệ dân gian”(2).

Tiền thân của Bài Chòi là sự liên lạc của các chòi canh trên nương rẫy. Bài Chòi đựợc hình hành và hoàn chỉnh ở vùng đồng bằng. Tuy nhiên, theo học giả người Ba Lan G.L.Bôviơ thì cho rằng: Bài Chòi xuất phát từ vùng rừng núi xa xôi. Đánh Bài Chòi là hình thức lôi cuốn nhất đối với nhân dân lao động trong những ngày lễ tết. Hình thức đánh Bài Chòi khá đơn giản:được kết cấu bằng chín cái còi con và một “trung tâm” hay còn gọi là chòi trung ương.

Người mua thẻ chơi Bài được ngồi trong các chòi để lắng nghe cây hát của anh Hiệu (người làm trò). Trong bộ Bài Chòi gồm 30 cặp, trong mỗi con bài không có ghi chữ mà là những hình vẻ theo kiểu tượng trưng, siêu thực và được đặt bằng những cái tên mang tính ước lệ như: Bạch Huê, Nhứt Nọt, Ngủ Trượt , Chín Cu… Ngày nay, hội Bài Chòi còn khá được phổ biến ở các tỉnh Nam Trung Bộ đặc biệt là vào các dịp lễ tết.

Tuy với tên gọi là Bài chòi nhưng trong sân chơi Bài Chòi không xem trọng sự thắng thua mang nghĩa vật chất mà đây là một trò giải trí, một sân chơi văn hoá của người dân nơi đây. Nó mang nhiều giá trị và ý nghĩa sâu sắc đặc biệt là trong nội dung của những câu thai. Thai là những câu mà anh Hiệu dùng để xướng tên con bài có thể đó là những câu dân ca, tục ngữ, hoặc là do tự sáng tác.

Trong khuôn khổ của bài viết này tôi chỉ đề cập đến hai đặc tính đặc sắc của Bài Chòi đó là tính nhân văn và tính giáo dục trong nội dung của những câu Thai.

Hát bài Chòi, một loại hình nghệ thuật đặc sắc của miền Nam Trung bộ.
Hát bài Chòi, một loại hình nghệ thuật đặc sắc của miền Nam Trung bộ (Ảnh internet)

Tính nhân văn

Chúng ta thường nghe nói rất nhiều đến tính nhân văn, có thể là trong văn học hay trong nghệ thuật… thế nhưng chúng ta đã thử một lần tìm hiểu tính nhân văn là gì hay chưa? Vâng, nói đến tính nhân văn ta không chỉ nói đến tình cảm của con người, những giá trị về mặt tình cảm mà con người thể hiện trong mỗi công trình cụ thể mà ta cần phải nói đến những nét văn hóa hằng sâu trong nó. Trong Bài Chòi cũng vậy tính nhân văn được thể hiện ở nhiều khía cạnh khác nhau.

Thứ nhất, thông qua nội dung của những câu Thai ta có thể tìm thấy trong đó sự ca ngợi tình phụ mẫu, tình thầy trò, theo những chuẩn mực đạo đức truyền thống của dân tộc. Như lời một câu Thai;

Đầu năm khấn vái tổ tiên

Cầu cho gia đạo bình yên, thuận hòa

Cầu cho sức khỏe mẹ cha

Cầu cho thôn xóm cửa nhà yên vui

Cầu cho con cái nên người

Cầu cho khoai lúa tốt tươi bời bời

Tân niên cần một nụ cười

Làm ăn song suốt bằng mười năm qua.

(con song suốt)

Qua câu Thai trên ít nhiều cũng phần nào cho ta hiểu được những tâm tư tình cảm, những ước vọng của con người nơi đây. Họ không chỉ cầu mong cho cha mẹ mà là cho tấc cả “thôn xóm” và con người nói chung. Nó cho ta thấy được tính nhân đạo lòng hiếu của người miền Trung nói riêng và của dân tộc việt nói chung. Đấy cũng chính là chuẩ mực đạo đức của dân tộc ta hướng con người đến đỉnh cao của cái thiện.

Thứ hai, ca ngợi tình cảm phu thê; tình yêu luôn là đề tài muôn thuở, nó chiếm một phần không nhỏ trong tâm hồn của mỗi người. Có khi nó sẽ làm thăng hoa một cảm xúc và có khi nó để lại một khoảng lặng buồn trong tâm hồn của chúng ta. Trong Bài chòi cũng như thế những câu hát về tình yêu chiếm một vị trí không nhỏ, đặc biệt là ca ngợi về sự thủy chung, gắn bó chia sẻ những niềm vui, nổi buồn, sự ngang trái của cuộc đời như lời một câu hát;

Yêu nhau năm, sáu mùa trăng

Chín thương mười đợi dẫu rằng cách xa

(con thầy)

hay là;

Dẫu mà hai ngỏ phân ly

Mình ơi hãy nhó hồi khi còn nghèo

(con nhị nghèo)

Sự thuỷ chung, tin tưởng lẫn nhau luôn là sợi chỉ đỏ để tình yêu được bền lâu. Vì thế, thông qua những câu Thai trên cho ta thấy được cái mà con người nơi đây muốn hướng tới là hạnh phúc và vĩnh hằng trong tình yêu. Chính vì thế mà tình cảm phu thê thường là gam màu chủ đạo trong nội dung của những câu thai, đó có thể là sự thuỷ chung hay giận hờn trách móc pha chút hờn ghen đáng yêu. Tuy nhiên, tựu chung lại cái mà họ muốn hướng đến là những giá trị nhân văn trong tình yêu.

Thứ ba, ca ngợi những đức tính tốt đẹp của con người; đó là lòng hiếu nghĩa, lòng nhân ái, sự bao dung, chia sẻ, cái tâm trong sáng và những giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc.

Cơm cha áo mẹ chữ thầy

Lòng con ghi nhớ ơn này không phai

Mẹ cha vấtvả ngày đêm

Thầy cô dạy dỗ chúng em nên người

Mai sau đi bốn phương trời

Công ơn trời biển suốt đời không quên

Con ngoan trò giỏi đáp đền ơn sâu

(con nhất trò)

Hay là;

Bầu ơi thương lấy bí cùng

Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn

(con nhì bí)

Cuối cùng, Bài chòi là sự kết tinh văn hoá của người miền Trung. Qua nội dung của những câu Thai ta có thể tìm thấy tính cách cũng như kho tàng ca dao, tục ngữ của con người nơi đây. Vì thế mà Bài chòi được xem là sân khấu để trình diễn các làn điệu dân ca đặc trưng Nam trung bộ. Đặc biệt, những điệu hát trong Bài chòi tuy khẳng khái, rắn rõi nhưng cũng không kém phần mượt mà, sâu lắng.Như chính tính cách của con người xứ này vừa cứng cõi, kiên định vừa uyển chuyển, linh hoạt. Có lẽ vì thế mà Bài chòi đã trở thành máu thịt của người dân nơi đây. Để rồi cứ mỗi lúc đi xa có những phút chạnh lòng nhớ về những giai điệu quê kiểng mà sâu lắng ấy.

Nhìn chung, trên đây là những điều cơ bản thể hiện tính nhân văn trong Bài chòi. Tuy được thể hiện ở nhiều khía cạnh, nhiều cung bật khác nhau nhưng tất cả đã nói lên được tính nhân văn sâu sắc trong Bài chòi. Thế nhưng, để làm nên đặc trưng của Bài chòi không chỉ có tính nhân văn mà ta cần phải nói đến tính giáo dục trong nó.

Tính giáo dục

Tính giáo dục trong Bài chòi được thể hiện ở nội dung của những câu Thai với nhiều khía cạnh khác nhau, đó là sự giáo dục về đạo đức, về nhân cách sống, về tình yêu quê hương đất nước, hướng con người đến những giá trị, những chuẩn mực đạo đức cao đẹp hơn.

Thứ nhất, giáo dục về tình yêu quê hương, đất nước; tình yêu quê hương đất nước luôn là nguồn cảm xúc mạnh mẽ nhất trong sáng tạo nghệ thuật. Ta có thể tìm thấy sự hiện diện của nó từ những câu ca mộc mạc, quê mùa đậm chất dân giã đến những lời ca mang phong cách đương đại. Đối với Bài chòi cũng vậy, tình yêu quê hương được khắc hoạ khá sâu sắc trong những câu ca; đó là lòng tự hào về quê hương, sự gởi gắm tình cảm về chốn thôn quê dân giã nơi mình đã chào đời. Đặc biệt, đó là những lời nhắn nhủ, mỗi người phải biết hướng về cội nguồn, về nơi ta sinh ra và về nơi đã cho ta những điều hạnh phúc trong đời...vv. Như lời một câu Thai;

Ông cha từng dạy rất nhiều

Lá lành… lá rách, nhiễu điều…giá gương.

Làm người phải biết yêu thương

Xóm thôn, đất nước, quê hương, đồng bào

Giúp người giữa lúc lao đao

Phước dày hơn cả sóng trào Biển Đông

Bầu ơi, thương lấy Bí cùng

Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn

(con nhì bí)

Họ đã mượn lời của cha ông để nói lên điều mình muốn nói nhằm dạy dỗ con cháu. Qua đó ta thấy điều mà họ muốn gởi gắm, muốn dạy dỗ không chỉ có tình yêu quê hương đất nước mà cả lòng nhân ái, sự yêu thương, sẻ chia, đùm bọc, nâng đỡ nhau trong những lúc lao đao. Để cái cuối cùng đạt đến là tình cảm với con người với quê hương đất nước.

Thứ hai, thông qua việc phê phán những tệ nạn xã hội từ đó hướng con người tránh xa nó; đấy có thể là sự phê phán những con người bạc tình vô ơn;

Hồi nào đói rách có qua

Bây giờ nên xưởng nên nhà lại lơ

(con sáu xướng)

Hay là sự phê phán sự vơ vét bóc lột của bọn quan lại, cường hào, của những kẽ giàu đối với người nghèo;

Nhiều quan thì khổ thằng dân

Nhiều giàu thì lại chết trân thằng nghèo

(con nhì nghèo)

Thứ ba, thông qua việc phê phán những hủ tục lạc hậu để từ đó hướng con người đến một xã hội văn minh hơn như phê phán tục Bói toán.

“nghe lời thấy Bói nói càn

Làmcho lá rủ hoa tàn nhụy phai

Nghe lời thầy Bói nói sai

làm cho duyên nợ trúc mai chia lìa

Ớ bà con ơi đừng có nghe ông thầy, đừng có nghe ông thầy

(con thầy)

Nhìn chung, tính giáo dục trong Bài chòi khá phong phú, đa đạng được thể hiện ở nhiều khía cạnh khác nhau. Tuy nhiên, dù cho ở khía cạnh nào thì thông qua những câu Thai trên người dân nơi đây muốn gởi gắm vào đấy những điều họ muốn răn dạy, khi nghe được những câu ca này tự mỗi người sẽ cảm nhận được những ý nghĩa bên trong để từ đó tạo cho ta một cách sống tốt đẹp hơn phù hợp với truyền thống của dân tộc.

Tóm lại, có những giai điệu lời ca làm ta rung động, có những giai điệu lời ca để lại một khoảng lặng nào đó trong lòng chúng ta và cũng có những giai điệu lời ca đem đến cho ta sự hiểu biết về một vùng đất, về con người nơi đó. Bài chòi cũng vậy, đây là một loại hình đặc trưng của người Nam trung bộ. Qua nội dung của những câu Thai đã cho ta hiểu được tính cách của con người nơi đây chân chất, ngay thẳng, nhân ái chan hoà. Tuy nhiên, điều đặc trưng nhất trong mỗi câu Thai là tính nhân văn và tính giáo dục sâu sắc.

Chính bởi đặc trưng trên đã làm nên sự độc đáo trong Bài chòi. Có lẽ vì thế mà sau những giai điệu lời ca ấy đã cho ta một khoảnh khắc để trở về với những giá trị truyền thống của dân tộc. Tuy quê kiểng mà dễ đi vào lòng người, tuy mộc mạc dân giã nhưng thấm đượm tính nhân văn. Đến với Bài chòi ta như đến với một phần của con người nơi đây.

Bùi Hữu Cường

(VNH K08 ĐH Quảng Nam)

 

Danh mục

Đăng nhập